Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược định giá sản phẩm dịch vụ. Chương 2: Thực trạng vận dụng chiến lược định giá dịch vụ kho,bãi tại VCP. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chiến lược định giá dịch vụ kho, bãi tại VCP. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ 1.1 Những vấn đề lý luận chung về định giá sản phẩm dịch vụ 1.1 Phân loại chi phí Chi phí là mối quan tâm hàng đầu đối với doanh nghiệp vì chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào có thể kiểm soát được chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Việc nhận diện và phân loại chi phí là thiết yếu để có thể quản lý chi phí từ đó đưa ra quyết định chính xác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Có nhiều cách phân loại chi phí cho doanh nghiệp. Các cách phân loại chi phí sản xuất chủ yếu: Bảng 1.1 Bảng phân loại chi phí Loại chi phí Cơ sở phân loại Mục đích Nguyên liệu, vật liệu, tiền lương, bảo Theo tính chất Định mức vốn lưu hiểm, khấu hao TSCĐ, dịch vụ mua kinh tế động, kiểm tra và ngoài, khác bằng tiền phân tích dự toán chi phí Thực tế, định mức Theo nguồn chi Tính giá thành, ra phí quyết định kinh doanh Kiểm soát được, không kiểm soát Theo mục đích Ra quyết định kinh được, chìm, cơ hội, chênh lệch kiểm soát doanh Sản xuất, ngoài sản xuất Theo chức năng Tính giá thành, lập hoạt động báo cáo tài chính Thời kỳ, sản phẩm Theo mối quan hệ Định giá hàng kho, với lợi nhuận lập báo cáo tài chính Trực tiếp, gián tiếp Theo đối tượng tập Phân tích lợi nhuận, hợp chi phí kiểm soát chi phí 15 Biến đổi, cố định Theo mối quan hệ Lập kế hoạch, định với sản lượng sản giá và ra quyết định xuất (Nguồn : tác giả tổng hợp) Với mục đích định giá sản phẩm dịch vụ, tác giả xem xét nghiên cứu phân loại chi phí theo mối quan hệ với sản lượng sản xuất.
Thứ nhất, chi phí cố định Là những chi phí không thay đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động. CPCĐ không bị tác động bởi mức độ hoạt động. Đặc điểm định phí: - Tổng CPCĐ không đổi khi doanh nghiệp thay đổi mức độ hoạt động trong phạm vi quy mô phù hợp. - CPCĐ tính trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm dần khi tăng mức độ hoạt động.1 Đồ thị chi phí cố định (Nguồn: NXB Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2012, Giáo trình kế toán quản trị) Định phí được thể hiện bởi phương trình y = a, có a là một hằng số.
Phân loại chi phí cố định: - Chi phí cố định bắt buộc: là loại chi phí không thể biến mất cho dù mức độ hoạt động của doanh nghiệp có xuống rất thấp, thậm chí ngưng hoạt động. - Chi phí cố định tùy ý: là loại chi phí có thể thay đổi nhanh chóng thông qua các quyết định của lãnh đạo như chi phí marketing, đào tạo nhân viên… Quyết định này có thể đưa ra hàng năm và có thể thay đổi nhanh chóng, cắt giảm trong những trường hợp cần thiết. Thứ hai, chi phí biến đổi Chi phí biến đổi là những chi phí biến đổi theo sản lượng. Nguyên liệu sản xuất, bao bì, tiền thưởng, tiền gia công theo sản phẩm, hoa hồng bán hàng là những 17 ví dụ điển hình.
Đặc điểm quan trọng của chi phí biến đổi là nó tỷ lệ thuận với sự tăng hoặc giảm của quy mô sản xuất.2 Đồ thị chi phí biến đổi (Nguồn: NXB Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2012, Giáo trình kế toán quản trị) Thứ ba, chi phí bán khả biến Không phải tất cả các chi phí đều dễ phân thành chi phí cố định hay chi phí biến đổi. Một số chi phí có cả những yếu tố cố định và yếu tố biến đổi. Như, chi phí trả lương cho nhân viên kinh doanh là chi phí bán khả biến, trong đó phần lương cứng là chi phí cố định và phần nhận được từ hoa hồng bán hàng nhiều hay ít phụ thuộc vào doanh số đem lại là chi phí biến đổi. Hoặc, chi phí thanh toán tiền thuê bao sử dụng điện thoại, trong đó số tiền thuê bao đăng ký sử dụng hàng tháng là chi phí cố định và phần phát sinh thêm nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian gọi khi vượt qua mốc gói dung lượng đăng ký là chi phí biến đổi.
Thứ tư, điểm hòa vốn 18 Khi gộp chi phí cố định và chi phí biến đổi lại với nhau, ta xây dựng thành tổng chi phí. Sự thay đổi của tổng chi phí theo các mức sản lượng khác nhau (Hình 1. Bằng cách thể hiện chi phí biến đổi từ đoạn đi ngang của chi phí cố định, ta có thể vẽ được đường đồ thị tổng chi phí. Tổng chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi (Nguồn : tác giả tổng hợp) Hình 1.3 Đồ thị tổng chi phí và điểm hòa vốn (Nguồn :tác giả tổng hợp) Bài toán quan trọng nhất của doanh nghiệp là tìm thấy điểm tại đó bắt đầu có lợi nhuận, ta gọi là điểm hòa vốn (break even point – BEP).
Điểm mà đường doanh thu cắt đường tổng chi phí, chỉ sau khi vượt qua điểm này thì doanh nghiệp mới bắt đầu có lợi nhuận (Hình 1. 19 Ta có thể tìm ra điểm hòa vốn bằng cách áp dụng một phương trình toán học. Đây là phương trình chỉ ra mối quan hệ giữa doanh số, chi phí và năng lực của doanh nghiệp. Lợi nhuận = Doanh số - Chi phí = (Giá bán đơn vị x Số lượng) - (Chi phí biến đổi + Chi phí cố định) (Nguồn : tác giả tổng hợp) Nếu doanh số bằng chi phí thì doanh nghiệp không tạo ra lợi nhuận, khi điều này xảy ra chính là điểm hòa vốn.
Qua việc phân tích điểm hòa vốn giúp doanh nghiệp nhận thấy được rằng sau điểm hòa vốn cứ mỗi sản phẩm dịch vụ được bán ra sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp thêm một khoản đúng bằng phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí biến đổi của sản phẩm dịch vụ đó (lãi góp). Xem xét trường hợp của một công ty A, giả sử chi phí cố định là 90.000$, và chi phí biến đổi ước tính là 10% doanh số. Như vậy ta có có thể tính được điểm hòa vốn của doanh nghiệp A này là 100. Cách tính như sau: Doanh số hòa vốn (S) = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi S = 90.000 Thứ năm, mục tiêu lợi nhuận Như ta đã thấy, ở điểm hòa vốn thì doanh số và chi phí sẽ bằng nhau.
Nếu muốn tìm ra doanh số mà doanh nghiệp cần đạt được để sinh ra lợi nhuận mong muốn thì ta chỉ cần đưa mức lợi nhuận mong muốn vào phương trình. Doanh số = CPCĐ + CPBĐ + Lợi nhuận mong muốn (Nguồn : tác giả tổng hợp) 20 Xem xét trường hợp của công ty B, giả sử CPCĐ là 350.000$, CPBĐ chiếm 20% doanh số, và lợi nhuận mong muốn là 200. Như vậy ta có thể tính được doanh số cần thiết để đạt được mức lợi nhuận mong muốn là 687. Cách tính như sau: Doanh số = CPCĐ + CPBĐ + Lợi nhuận mong muốn S = 350.500 Thứ sáu, lãi góp (contribution margin) Alnoor Bhimani (2017) định nghĩa rằng, lãi góp là doanh số bán hàng trừ đi biến phí.
Nói cách khác, lãi góp đại diện cho số dư còn lại sau khi bán hàng đã thanh toán các khoản định phí cũng như để tạo ra lợi nhuận sau cùng. Lãi góp là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí biến đổi, cách phân tích này giúp cho doanh nghiệp nhận thấy trong thời gian ngắn hạn, doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận thì phải tối đa hóa lãi góp. Xem xét trường hợp của một nhà sản xuất C có thể sản xuất tối đa 27 triệu đơn vị. Trong đó với số lượng 25 triệu đơn vị đã đáp ứng được mục tiêu lợi nhuận, với các ước tính chi phí đơn vị được định trước như sau: CPBĐ = 4$/đơn vị; CPCĐ = 17$/đơn vị.
Sau đó nhà sản xuất C may mắn nhận được thêm một đơn hàng đặc biệt từ một đối tác khác, họ muốn mua 2 triệu đơn vị với giá 10$/đơn vị, và họ cũng đòi chiết khấu trị giá là 500. Liệu có đáng để nhà sản xuất C chấp nhận đơn hàng này không? Bài toán được giải như sau: - Với việc nhà sản xuất C đã bán được 25 triệu đơn vị đáp ứng được mục tiêu lợi nhuận đặt ra. Sau đó họ còn nhận thêm 2 triệu đơn vị thì lúc này họ chỉ bỏ ra CPBĐ để sản xuất mà không mất thêm bất kỳ một CPCĐ nào khác nữa. 21 - Ta có: CPBĐ = 4$/đơn vị; giá bán thêm 2 triệu đơn vị là 10$/đơn vị.
Vì vậy ta tính được lãi góp = 10 - 4 = 6 $/đơn vị. Tiếp tục nhân con số này cho 2 triệu đơn vị thì ta sẽ có lãi góp tổng cộng = 6$/đơn vị x 2. Con số này vượt xa mức chiết khấu 500.000$ mà họ yêu cầu. - Kết luận nhà sản xuất chấp nhận thêm đơn hàng 2 triệu đơn vị với giá 10$/đơn vị và kèm theo mức chiết khấu 500.
Tác giả giới thiệu thêm hai trường hợp thực tế của việc áp dụng lãi góp trong kinh doanh của các doanh nghiệp: Thứ nhất, lời quảng cáo “nếu mua hai bộ vest, bạn sẽ được giảm giá 50% cho bộ thứ 2!” tại những cửa hàng thời trang. Nếu ta nhìn kỹ vào thì có thể nhận biết được CPCĐ (gồm chi phí tiếp thị, chi phí cố định khác) đã được tính cho bộ vest thứ nhất, bộ vest thứ hai được giảm 50% giá vì trong đó chỉ bao gồm CPBĐ nguyên vật liệu sản xuất. Khi bán sản phẩm đồng thời như vậy, có thể tiết kiệm được chi phí cố định và tăng hiệu suất bán hàng lên đáng kế. Đây chính là mục đích thật sự của việc giảm giá một nữa cho bộ vest thứ hai.
Nhờ đó lợi nhuận kinh doanh của cửa hàng được gia tăng. Đồng thời cũng đem lại lợi ích cho khách hàng. Thứ hai, chúng ta vẫn thường thấy những lời quảng cáo như “giảm hết mức 79% giá phòng khách sạn cao cấp, nếu nhanh tay đặt phòng sớm” với những ngành dịch vụ khách sạn này, chi phí cố định (gồm chi phí nhân công, chi phí khấu hao, chi phí cơ sở vật chất) chiếm phần nhiều trên tổng chi phí, và cũng chính là rủi ro lớn trong kinh doanh. Vì vậy họ phải cần sớm đảm bảo được doanh thu vượt qua chi phí cố định để tạo ra lợi nhuận và giúp cho kinh doanh ổn định.