CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu chiến lược cạnh tranh Cạnh tranh luôn là chủ đề được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa hiện nay. Doanh nghiệp có cơ hội hợp tác sâu rộng với các doanh nghiệp nước ngoài nhằm học hỏi được kinh nghiệm, công nghệ hiện tại từ đối tác. Đồng thời nó cũng mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô sang các thị trường ở nước ngoài.
Và điểm cốt yếu để thành công tại các thị trường mới đó là doanh nghiệp phải xâm nhập thành công, cạnh tranh thành công phá bỏ rào cản tại các thị trường đó. Chủ đề này đã được nhiều cá nhân và tổ chức nghiên cứu ở thời kỳ nào hay ở lĩnh vực nào đều có đóng góp khác nhau và có các ý nghĩa thực tiễn nhất định cho các nhà nghiên cứu sau này hay các doanh nghiệp nghiên cứu để áp dụng. - Những cuốn sách tham khảo như “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” của tác giả Trần Sửu, Nxb Lao động (2006), “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Vũ Trọng Lâm, Nxb Chính trị quốc gia (2006) đã làm rõ một số lý luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đưa ra các bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là một trong những gợi ý tốt giúp cho doanh nghiệp tham khảo để có thể xây dựng được chiến lược cạnh tranh hợp lý trong nước và cả khi tham gia vào thị trường quốc tế.
- Trong lĩnh vực viễn thông trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề cạnh tranh nổi bật là các bài viết của tác giả Bùi Xuân Phong bao gồm “Mô hình lựa chọn chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Bưu chính 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Viễn thông” (tháng 2/2005); “Một số biện pháp nâng cao nặc lực cạnh tranh của TCTBCVT Việt Nam trong cung cấp dịch vụ Viễn Thông” (tháng 4/2005), “Suy nghĩ về năng lực cạnh tranh của dịch vụ viễn thông” (2007) đã để cập tới thực tế cạnh tranh ngành viễn thông tại Việt Nam và các tiêu chí cạnh tranh của các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông, đồng thời cũng chỉ ra một số chiến lược cạnh tranh mà các doanh nghiệp viễn thông có thể theo đuổi. Đây sẽ là một gợi ý tốt giúp Viettel tham khảo trong quá trình hoạch định chiến lược cạnh tranh tại Myamanar với thương hiệu Mytel. - Một số nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các gợi ý cho doanh nghiệp khi thâm nhập vào một thị trường nước ngoài. Cụ thể, Geetha (2011), “Nghiên cứu thị trường và chiến lược xâm nhập thị trường quốc tế” đã nhấn mạnh về cơ hội tiếp thị marketing tại tất cả các nước bất kể mức độ phát triển kinh tế tại quốc gia đó.
Để làm tốt được công tác marketing, tạo ra lợi thế cạnh tranh tại thị trường nước ngoài thì doanh nghiệp cần đưa ra được các tiêu chí phù hợp để so sánh với cơ hội kinh doanh và cạnh tranh tại đây. Các tiêu chí đó có thể là mức độ tiềm năng của thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế, rủi ro về thể chế - chính trị, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực lao động hay các rào cản thị trường. - Công trình nghiên cứu về thị trường viễn thông Trung Quốc của các tác giả Chang, Fang và Yen (2005), “Thị trường viễn thông Trung Quốc cho các nhà đầu tư nước ngoài: Cơ hội, Thách thức và Chiến lược” đã nhấn mạnh vào thời điểm thích hợp để quyết định gia nhập thị trường. Doanh nghiệp cần xác định được các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn một cách thông minh khi họ muốn gia nhập vào một thị trường nước ngoài và cạnh tranh với các doanh nghiệp đang hiện hữu tại quốc gia đó.
- Một nghiên cứu so sánh thị trường viễn thông trong nước và quốc gia sắp đầu tư giúp cho doanh nghiệp có thể khám phá ra cơ hội kinh doanh và có chiến lược cạnh tranh phù hợp ở thị trường nước ngoài. Các tác giả Lisitsyn, Sutyrin, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trofimenko and Vorobiera (2005), “Công ty viễn thông di động Nga MTS gia nhập khối thịnh vượng chung CIS” đã chỉ ra rằng tại các quốc gia CIS mà MTS đầu tư có thể nhìn thấy được sự tăng trưởng ổn định của thị trường di động. Đây là những đặc điểm chung của thị trường mà MTS quyết định đầu tư và đưa ra các chiến lược cạnh tranh đồng bộ. Có hai (2) suy luận chung cho việc phát triển bền vững này là cơ sở để MTS đầu tư đó là: Nhu cầu liên lạc tăng cao trong thế giới hiện đại ngày nay của người dân Các chiến dịch marketing tập trung từ các nhà mạng Các kết quả nghiên cứu từ các công trình trên đây sẽ là những gợi ý tốt giúp cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài “Xây dựng Chiến lược cạnh tranh của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) khi xâm nhập thị trường viễn thông Myanmar”.
Luận văn này là một nghiên cứu mới không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, tập trung chủ yếu vào các phân tích nhằm đều xuất được cho Viettel một số giải pháp cạnh tranh khi đưa thương hiệu MyTel chính thức xuất hiện trên bản đồ viễn thông của Myanamar. Cơ sở lý luận về chiến lược cạnh tranh 1. Một số khái niệm liên quan đến chiến lược cạnh tranh Chiến lược: Theo Afed Chandler (1962) thì “chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Glueck (1980), “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”.
Trong tác phẩm “khái niệm về quản trị chiến lược”, Fred R David (1998) lại cho rằng “chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”. Michael Porter (2009) tóm lược ngắn gọn hơn như sau: “chiến lược được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới mục đích của tổ chức”. Dù tiếp cận theo cách nào thì chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp gồm các hoạt động chính sau: (1) Xác định các mục tiêu dài hạn và cơ bản của công ty.
(2) Đề ra các phương hướng và chương trình hành động tổng quát để đạt được mục tiêu. (3) Lựa chọn các phương án triển khai, phân bổ các nguồn lực để thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của công ty. Chiến lược được chia thành 3 cấp chính: (1) Chiến lược cấp công ty; (2) Chiến lược cấp kinh doanh; (3) Chiến lược cấp chức năng. (1) Chiến lược cấp cấp công ty (Corporate Strategy): xác định những định hướng của tổ chức trong dài hạn nhằm hoàn thành nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu của công ty như chiến lược tăng trưởng tập trung; chiến lược đa dạng hóa; chiến lược đầu tư phát triển lâu dài thông qua hệ sinh thái; chiến lược đầu tư nước ngoài; vv.
(2) Chiến lược cấp kinh doanh (Business Strategy): Chiến lược này nhằm định hướng phát triển từng ngành hay từng chủng loại sản phẩm góp phần hoàn thành chiến lược cấp công ty. Chiến lược cấp kinh doanh thường gặp là chiến lược cạnh tranh, chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược cắt giảm chi phí, vv. (3) Chiến lược cấp chức năng (Functional Strategy): Các doanh nghiệp đều có các bộ phận chức năng có vai trò, nhiệm vụ khác nhau. Các bộ phận này cần có chiến lược để hỗ trợ thực hiện chiến lược cấp kinh doanh và cấp công ty.
Nó chính là các chiến lược ở cấp chức 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng như: Chiến lược marketing, chiến lược nguồn nhân lực, chiến lược R&D, chiến lược sản xuất, chiến lược đầu tư, chiến lược tài chính,vv. Các chiến lược cấp chức năng thường có giá trị trong từng thời đoạn của quá trình thực hiện góp phần lớn vào việc hoàn thành được chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty. Cạnh tranh: Từ điển Bách khoa Việt Nam (2011) viết rằng “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Porter (1998, 2008), cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi. Lợi thế cạnh tranh: Theo Michale Porter (1998, 2008), nền tảng cơ bản để doanh nghiệp hoạt động đạt được mức lợi nhuận trên trung bình trong dài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững. Lợi thế cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp duy trì được vị thế của mình, chiến thắng trong cuộc đua dài hạn với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, gián tiếp hay đối thủ tiềm năng.
Hai loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu bao gồm: Chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản này kết hợp với phạm vi hoạt động của doanh nghiệp sẽ cho phép tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát để đạt được hiệu quả trên mức trung bình ngành. Ba chiến lược đó là chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung hóa.Kurt (2010) đưa ra quan điểm “Lợi thế cạnh tranh là bất cứ giá trị nào mà một doanh nghiệp cung cấp nhằm thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ của họ hơn là sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và tạo rào cản đối với đối thủ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiềm năng và hiện tại”.