Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng đóng vai trò sống còn trong việc bảo vệ môi trường, điều tiết nguồn nước và lưu trữ carbon nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới, trong giai đoạn 1990-2005, thế giới đã mất đi khoảng 16,4 triệu ha rừng tự nhiên, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh sinh thái và đời sống của các cộng đồng cư dân vùng cao. Tại Việt Nam, tỷ lệ che phủ rừng đã có sự phục hồi đáng kể từ 28,8% năm 1998 lên 39,7% vào năm 2011 nhờ các chương trình phục hồi rừng quy mô lớn. Tuy nhiên, tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất vẫn làm suy giảm hơn 30.000 ha rừng tự nhiên mỗi năm.

Để giải quyết bài toán dung hòa giữa bảo tồn và sinh kế, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) theo Quyết định 380/QĐ-TTg và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã ra đời. Sơn La là địa phương tiên phong thí điểm chính sách này từ năm 2008 nhằm bảo vệ vùng lưu vực thủy điện sông Đà. Mặc dù vậy, trong giai đoạn đầu triển khai, tỷ lệ giải ngân toàn tỉnh mới đạt khoảng 46% và diện tích được chi trả thực tế mới đạt 12,9% kế hoạch do những điểm nghẽn trong kiểm kê rừng và giao đất giao rừng.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách PFES và đánh giá tác động toàn diện của chính sách này đến 5 nguồn lực sinh kế của cộng đồng địa phương tại xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La trong mốc thời gian từ năm 2008 đến năm 2014. Với tổng diện tích đất tự nhiên 6.186,8 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 38% (2.241,7 ha), địa bàn nghiên cứu cung cấp bức tranh thực tiễn sinh động. Kết quả của đề tài đóng góp luận cứ khoa học quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn thu và xây dựng chiến lược phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng đệm lưu vực thủy điện trọng điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa lý thuyết kinh tế tài nguyên môi trường và quản trị phát triển bền vững, bao gồm hai trụ cột lý thuyết chính:

Thứ nhất, khung phân tích sinh kế bền vững của Ủy ban Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2001). Khung lý thuyết này nhận định sinh kế của cộng đồng được hình thành từ 5 nguồn vốn cơ bản: vốn con người (trình độ, kỹ năng, thể lực), vốn tự nhiên (đất đai, tài nguyên rừng, nguồn nước), vốn vật chất (nhà ở, hạ tầng giao thông, điện nước), vốn tài chính (thu nhập, tiền trợ cấp, tiếp cận tín dụng) và vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, quy ước bản địa, niềm tin cộng đồng). Các nguồn vốn này chịu sự tương tác chặt chẽ từ môi trường thể chế, chính sách quản lý và các yếu tố dễ bị tổn thương từ tự nhiên.

Thứ hai, lý thuyết chi trả dịch vụ hệ sinh thái của Sven Wunder (2005) và Stefano Pagiola (2003). Học thuyết này khẳng định PES là một giao dịch tự nguyện có điều kiện, trong đó bên thụ hưởng các dịch vụ môi trường (như các nhà máy thủy điện, công ty cấp nước sạch) phải chi trả tài chính cho bên cung ứng dịch vụ (các chủ rừng, cộng đồng bảo vệ rừng) nhằm bù đắp chi phí cơ hội và tạo động lực bảo tồn. Nguyên tắc "người hưởng lợi phải trả tiền" thay thế cho phương thức "người gây ô nhiễm phải trả tiền" truyền thống, tạo ra thị trường dịch vụ hệ sinh thái gồm 4 nhóm chính: dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa và dịch vụ hỗ trợ theo chuẩn đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm cốt lõi về lâm nghiệp cộng đồng theo Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) và định nghĩa dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng thông qua tiếp cận hệ thống đa tầng từ cấp tỉnh, cấp thành phố, cấp xã đến cấp bản:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được hồi cứu từ các văn bản pháp quy của Chính phủ, báo cáo tổng kết của Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng tỉnh Sơn La, số liệu thống kê kinh tế - xã hội của UBND xã Chiềng Cọ giai đoạn 2006-2013. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực địa tại Bản Dầu (87 hộ) và Bản Ót Nọi (110 hộ).
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích và ngẫu nhiên phân tầng trong đánh giá nhanh nông thôn (PRA). Tác giả tiến hành 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung (mỗi bản 2 nhóm gồm nhóm quản lý bảo vệ rừng và nhóm phụ nữ, mỗi nhóm từ 6 đến 7 đại biểu, tổng cộng 26 đại biểu tham gia) cùng các cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với cán bộ Chi cục Kiểm lâm, cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng lãnh đạo địa phương.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Sử dụng thang đo đánh giá mức độ hài lòng 3 mức (Không hài lòng = 1 điểm, Hài lòng = 5 điểm, Rất hài lòng = 10 điểm) để lượng hóa các tiêu chí định tính thành điểm số trung bình (thang điểm 10) cho từng nguồn lực sinh kế. Phương pháp này cho phép đo lường chính xác nhận thức của người dân, so sánh trực quan mức độ tác động giữa các nhóm xã hội và phản ánh chân thực bản chất thích ứng sinh kế mà các chỉ số kinh tế đơn thuần không thể hiện hết.
  • Thời gian nghiên cứu: Thực hiện thu thập và phân tích dữ liệu thực địa từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực nghiệm tại xã Chiềng Cọ đã chỉ ra những chuyển biến rõ nét nhưng có sự phân hóa sâu sắc giữa các nguồn lực sinh kế dưới tác động của chính sách PFES:

Thứ nhất, chính sách tạo ra tác động tích cực vượt trội lên nguồn vốn tự nhiên và nhận thức bảo vệ rừng. Tại bản Ót Nọi, nơi sở hữu 246,16 ha đất rừng (chiếm 70,1% tổng diện tích tự nhiên với 224 ha rừng phòng hộ), tỷ lệ người dân tham gia tuần tra bảo vệ rừng đạt mức cao, các vụ lấn chiếm đất nương rẫy và chặt phá gỗ trái phép giảm trên 90% so với trước năm 2008. Ngược lại, tại bản Dầu với 100 ha đất rừng (chiếm 33,6% diện tích tự nhiên, gồm 50 ha rừng phòng hộ và 50 ha rừng sản xuất), công tác phòng cháy chữa cháy rừng cũng được kiểm soát tốt, duy trì diện tích thảm phủ ổn định.

Thứ hai, tác động đến nguồn vốn tài chính còn ở mức khiêm tốn và phân hóa theo quy mô diện tích rừng được giao khoán. Doanh thu PFES được chi trả gián tiếp qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng đã bổ sung nguồn tiền mặt nhất định cho cộng đồng. Tuy nhiên, mức đóng góp vào tổng thu nhập hộ gia đình còn thấp. Tại bản Ót Nọi, nơi có diện tích rừng lớn hơn, thu nhập bình quân của nhóm hộ khá giàu đạt từ 100 đến 150 triệu đồng/năm, trong khi tại bản Dầu mức thu nhập cao nhất của nhóm hộ giàu chỉ đạt khoảng 50 triệu đồng/năm và nhóm hộ nghèo dưới 10 triệu đồng/năm.

Thứ ba, nguồn vốn xã hội và vốn con người được nâng cao thông qua việc củng cố thiết chế cộng đồng. Việc thành lập các tổ chuyên trách quản lý bảo vệ rừng tại 100% các bản nghiên cứu đã gắn kết chặt chẽ cộng đồng dân tộc Thái tại bản Dầu cũng như khối đại đoàn kết 3 dân tộc Thái, Kinh, Mường tại bản Ót Nọi. Các buổi họp bản công khai quy ước giữ rừng đã gia tăng hiểu biết pháp luật lâm nghiệp cho hơn 80% người dân tham gia.

Thứ tư, nguồn vốn vật chất được cải thiện gián tiếp qua việc trích lập quỹ bảo vệ rừng thôn bản. Nguồn kinh phí cộng đồng đã đóng góp vào các công trình dân sinh, nâng tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới toàn xã lên 89,5%, tỷ lệ hộ có nhà ngói kiên cố đạt 89% (900 trên 1.002 hộ) và 92,6% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt tự chảy.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn tới sự khác biệt về kết quả sinh kế giữa hai bản nghiên cứu nằm ở cơ cấu sử dụng đất và khoảng cách địa lý. Bản Ót Nọi nằm cách trung tâm xã 5 km với 70,1% diện tích là đất rừng nên nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng tạo ra giá trị tích lũy cao hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản. Trong khi đó, bản Dầu cách trung tâm 7 km, điều kiện giao thông mùa mưa chia cắt, đất nông nghiệp chiếm tới 57% (170 ha) khiến cộng đồng phụ thuộc nặng nề vào canh tác nương rẫy và chịu rủi ro lớn hơn về suy thoái nguồn nước.

Để tối ưu hóa việc phân tích, toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ mạng nhện (radar chart) 5 trục biểu diễn điểm số tác động lên 5 nguồn vốn sinh kế, kết hợp cùng bảng thống kê đa biến so sánh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa Bản Dầu và Bản Ót Nọi. Sơ đồ dòng tiền chi trả từ bên sử dụng dịch vụ (nhà máy thủy điện Hòa Bình, thủy điện Sơn La) qua Quỹ cấp tỉnh đến ban quản lý bản cũng làm rõ tính minh bạch trong chuỗi giá trị PFES.

So sánh với các nghiên cứu của Stefano Pagiola (2003) trên thế giới và Hoàng Thị Thu Thương (2011) tại Việt Nam, kết quả tại Chiềng Cọ tái khẳng định một quy luật: PFES là công cụ kinh tế cực kỳ hữu hiệu trong việc ngăn chặn suy thoái tài nguyên rừng tự nhiên, nhưng bản thân chính sách này chưa thể trở thành công cụ độc lập giúp người dân thoát nghèo bền vững nếu không có sự lồng ghép với các gói hỗ trợ kỹ thuật thâm canh và tín dụng nông nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện cơ chế thực thi chính sách PFES và thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững tại địa phương, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, chuẩn hóa công tác đo đếm và minh bạch hóa dòng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng tỉnh Sơn La phối hợp với Chi cục Kiểm lâm đẩy nhanh tiến độ rà soát bản đồ hiện trạng rừng, áp dụng chính xác hệ số K theo chất lượng rừng thực tế, nhằm nâng tỷ lệ giải ngân kinh phí lũy kế từ 46% lên trên 90% trong giai đoạn 2015-2017.

Thứ hai, đa dạng hóa mô hình sinh kế nông lâm kết hợp gắn với thị trường. UBND xã Chiềng Cọ cần phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp thành phố hướng dẫn người dân bản Dầu và bản Ót Nọi chuyển đổi đất dốc sang trồng xen cà phê và mận Hậu chất lượng cao, phấn đấu tăng sản lượng cà phê nhân toàn xã vượt mốc 16.770 tấn, qua đó nâng giá trị thu nhập bình quân của 197 hộ dân hai bản thêm 20-25% trong vòng 2 năm.

Thứ ba, tăng cường đào tạo năng lực quản trị và kỹ thuật bảo vệ rừng cho cấp cơ sở. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La định kỳ tổ chức 4 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho các thành viên tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn bản, trang bị đầy đủ dụng cụ phòng cháy chữa cháy và kỹ năng giám sát rừng cộng đồng trước mùa khô năm 2016.

Thứ tư, thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt an ninh nguồn nước sinh hoạt. Chính quyền thành phố Sơn La cần đầu tư xây dựng hệ thống lọc lắng tập trung tại đập nước bản Hua, đồng thời ban hành quy định nghiêm cấm 100% hành vi phun thuốc diệt cỏ hóa học ven các lưu vực cà phê thượng nguồn, bảo đảm an toàn nguồn nước sạch cho 1.002 hộ dân toàn xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phương pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng các cấp có thể khai thác các cứ liệu thực chứng để điều chỉnh quy trình giao đất giao rừng, hoàn thiện khung pháp lý về hệ số K và tháo gỡ vướng mắc giải ngân trong Nghị định số 99/2010/NĐ-CP.
  2. Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kinh tế Lâm nghiệp và Phát triển Bền vững có thể sử dụng đề tài như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp vận dụng khung sinh kế DFID kết hợp công cụ đánh giá nhanh nông thôn (PRA) trong nghiên cứu chính sách tài nguyên.
  3. Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển quốc tế: Các chuyên gia điều phối dự án thuộc các chương trình REDD+, FLEGT hay các dự án bảo tồn đa dạng sinh học có thêm góc nhìn thực tế về hành vi ứng xử sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số khi tiếp cận các nguồn tài chính sinh thái.
  4. Lãnh đạo chính quyền địa phương và cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, xã: Cung cấp cẩm nang thực hành để xây dựng quy ước bảo vệ rừng cấp bản, thiết kế cơ chế chi tiêu công khai nguồn quỹ cộng đồng và lồng ghép PFES vào chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) có điểm gì khác biệt so với các chương trình tài trợ lâm nghiệp trước đây? Khác với các chương trình cấp phát ngân sách nhà nước thuần túy như Chương trình 327 hay Dự án 661, PFES vận hành theo nguyên tắc kinh tế thị trường "người hưởng lợi phải trả tiền". Các cơ sở kinh doanh thủy điện hay cấp nước phải chi trả tiền ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng để chuyển trực tiếp cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ bảo vệ lưu vực.

  2. Tại sao lại có sự chênh lệch lớn về mức hưởng lợi từ PFES giữa Bản Dầu và Bản Ót Nọi? Sự chênh lệch xuất phát từ cơ cấu diện tích đất rừng được giao khoán. Bản Ót Nọi sở hữu tới 246,16 ha đất rừng (chiếm 70,1% diện tích tự nhiên, trong đó có 224 ha rừng phòng hộ) nên nhận được tổng tiền chi trả cao hơn nhiều so với Bản Dầu vốn chỉ có 100 ha đất rừng (chiếm 33,6% diện tích tự nhiên).

  3. Chính sách PFES tác động mạnh mẽ nhất đến nguồn lực sinh kế nào của người dân xã Chiềng Cọ? Chính sách tạo ra tác động lớn nhất lên nguồn vốn tự nhiên và vốn xã hội. Diện tích rừng được giữ vững, các vụ vi phạm lâm luật giảm hơn 90%, đồng thời tinh thần gắn kết cộng đồng và ý thức trách nhiệm của các tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn bản được củng cố vững chắc.

  4. Vì sao tỷ lệ giải ngân kinh phí PFES tại Sơn La trong giai đoạn thí điểm lại ở mức thấp? Tỷ lệ giải ngân ban đầu mới đạt khoảng 46% do các vướng mắc kỹ thuật trong việc xác định chính xác ranh giới lưu vực, chậm trễ trong công tác rà soát kiểm kê trạng thái rừng và những khó khăn khi phân bổ nguồn tiền đến hàng nghìn hộ dân sống rải rác tại các vùng sâu, vùng xa.

  5. Tiền chi trả PFES có đủ giúp các hộ nghèo tại địa phương thoát nghèo bền vững hay không? Nguồn thu từ PFES đóng vai trò là khoản tài chính bổ sung ổn định chứ chưa đủ để hộ dân thoát nghèo độc lập. Để xóa đói giảm nghèo bền vững, nguồn tiền này cần được tích hợp làm vốn mồi để đầu tư vào giống cây cà phê, mận Hậu và áp dụng kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc.

Kết luận

  • Luận văn là công trình khoa học hệ thống hóa xuất sắc tác động thực chứng của chính sách PFES đến 5 nguồn vốn sinh kế tại vùng thí điểm Tây Bắc.
  • Nghiên cứu khẳng định chính sách PFES theo Quyết định 380/QĐ-TTg và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã tạo bước chuyển biến căn bản trong công tác quản lý bảo vệ 1.241,7 ha rừng tại xã Chiềng Cọ.
  • Kết quả chỉ ra sự phân hóa sinh kế rõ rệt bắt nguồn từ cơ cấu sở hữu đất đai giữa Bản Ót Nọi (70,1% đất rừng) và Bản Dầu (33,6% đất rừng), khẳng định tiền dịch vụ môi trường rừng là nguồn lực bổ trợ chứ không thay thế hoàn toàn sản xuất nông nghiệp.
  • Hệ thống 4 giải pháp trọng tâm đề xuất trong đề tài mang tính khả thi cao, từ hoàn thiện hệ số K, đẩy mạnh giải ngân trên 90% đến bảo vệ an toàn nguồn nước đập Hua.
  • Nghiên cứu đặt nền tảng định hướng cho các giai đoạn tiếp theo nhằm tích hợp cơ chế PFES với các sáng kiến quốc tế như REDD+ và thị trường tín chỉ carbon trong giai đoạn 2015-2020.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm đến mô hình quản trị tài nguyên rừng và bài toán sinh kế miền núi hãy tiếp tục khai thác, ứng dụng các phát hiện của luận văn vào thực tiễn phát triển bền vững tại địa phương.