Chương 1: Giới thiệu luận văn. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến lạm phát. - Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Thực trạng về chi tiêu công và tình hình lạm phát ở các quốc gia Đông Nam Á.
- Chương 5: Kết quả nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến lạm phát ở các quốc gia Đông Nam Á. - Chương 6: Kết luận và khuyến nghị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN LẠM PHÁT 2. Tổng quan lý thuyết về lạm phát 2.
Khái niệm lạm phát Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi quy luật lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế bị vi phạm. Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát tùy theo từng cách tiếp cận, cụ thể như sau: Theo Friedman (1970), “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Một số nhà kinh tế học cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền được cung ứng nhiều hơn mức cần thiết hoặc là do khối lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết”, “lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”. Lạm phát là sự gia tăng bền vững của mức giá chung trong nền kinh tế, trong khi tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ tăng giữa mức giá chung của hai kỳ kế tiếp nhau (Ogbole & Momodu, 2015).
Tình trạng lạm phát diễn ra trong một nền kinh tế khi giá trị thị trường hay sức mua của đồng tiền bị suy giảm. Khái niệm này được hiểu trong phạm vi nền kinh tế của một nước. Đặt trong tương quan với các nền kinh tế khác, có thể hiểu lạm phát là sự phá giá của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ khác. Cách hiểu này lại dựa trên khía cạnh lạm phát trong phạm vi thị trường toàn cầu của một đồng tiền cụ thể.
Theo World Bank, lạm phát được đo lường bởi chỉ số giá tiêu dùng, thể hiện sự thay đổi (%) hàng năm về chi phí mà người tiêu dùng bình thường phải trả cho một rỗ hàng hóa và dịch vụ (có thể cố định hoặc thay đổi) ở những khoảng thời gian nhất định (thường là theo năm). Như vậy, lạm phát có thể được hiểu là sự suy giảm sức mua của tiền tệ và được đo lường bằng sự gia tăng mức giá chung trong nền kinh tế. Phân loại lạm phát Dựa trên tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế học đã chia lạm phát thành ba loại như sau: - Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dýới 10% một nãm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến ðộng týõng ðối.
Nền kinh tế trong giai ðoạn lạm phát vừa phải hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 định, giá của các hàng hóa tăng lên khá chậm, mức lãi suất tiền gửi không biến động nhiều, tình trạng tích trữ hàng hoá để đầu cơ với số lượng lớn không xảy ra. Điều này cho thấy, lạm phát vừa phải sẽ không gây ra những bất ổn cho người về mặt tâm lý và thu nhập thực tế. Trong giai đoạn này các doanh nghiệp có doanh thu và lợi nhuận ổn định, ít rủi ro nên sẽ đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. - Lạm phát phi mã: là tình trạng lạm phát diễn ra với mức độ tăng giá của hàng hóa tương đối nhanh với tỷ lệ từ vài chục đến vài trăm phần trăm trong một năm.
Trong giai đoạn lạm phát phi mã, mức giá cả chung của nền kinh tế tăng lên nhanh chóng, các hợp đồng kinh tế được chỉ số hoá, xảy ra tình trạng người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản thay cho việc nắm giữ tiền mặt và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Loại lạm phát này khi xảy ra trong thời gian dài sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. - Siêu lạm phát: là tình trạng lạm phát rất cao, có tốc độ tăng giá chung ở mức 3 chữ số trở lên trong một năm, gây sự phá hoại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Khi có siêu lạm phát tiền mất giá nghiêm trọng, lượng cầu về tiền tệ giảm đi đáng kể, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn.
Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra. Các nguyên nhân gây ra lạm phát Lạm phát do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Phân loại theo nguyên nhân của lạm phát chúng ta có các loại sau: Lạm phát cầu kéo: là do lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế lớn hơn lượng cung sẵn có dẫn đến các doanh nghiệp tăng giá hàng hóa dịch vụ. Tình trạng này xảy ra khi nền kinh tế có tốc ðộ tãng trýởng GDP thực tế nhanh hõn so với tốc ðộ tãng trýởng lâu dài của GDP tiềm nãng.
Những nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát cầu kéo như sau: - Lạm phát cầu kéo có thể được lý giải bởi lý thuyết trọng tiền. Lý thuyết này cho rằng cung tiền là nhân tố quyết định chính tác động đến tình trạng lạm phát. Lập luận của lý thuyết này là cung tiền tăng làm tăng tổng cầu, tiếp đến tổng cầu tăng vượt quá nguồn cung sẵn có lại làm tăng mức giá. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Do một sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái làm cho hàng hóa xuất khẩu tăng khả năng cạnh tranh ở thị trường ngoài nước dẫn đến có một lực cầu mới chảy vào quốc gia đó dẫn đến làm gia tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ đối với nguồn cung của quốc gia đó.
- Các chính sách về kinh tế của Chính phủ làm tăng áp lực cầu, cụ thể là: Chính phủ giảm các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ cũng như thu nhập dẫn đến làm tăng thu nhập khả dụng của người tiêu dùng. Ngoài ra, chính phủ còn tạo áp lực lên cầu thông qua chi tiêu dùng của chính phủ và tăng cường cho vay mượn. Bên cạnh đó, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua việc giảm lãi suất có thể dẫn đến gia tăng nhu cầu tiêu dùng do việc đi vay trở nên dễ dàng hơn. Lạm phát cầu kéo Lạm phát chi phí đẩy: (hay lạm phát sốc cung) là do giá cả các yếu tố đầu vào trong sản xuất tăng dẫn đến việc các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất hoặc thậm chí phá sản làm tổng cung sụt giảm (sản lượng tiềm năng).
Một trong những hậu quả của lạm phát chi phí đẩy là nó có thể dẫn đến tình trạng đình trệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát này. Chi phí sản xuất tăng do sự gia tăng về giá của các yếu tố đầu vào trong sản xuất như sau: - Sự gia tăng chi phí nguyên vật liệu cấu thành nên sản phẩm: Điều này có thể là do sự gia tăng giá cả hàng hóa toàn cầu như dầu, khí đốt làm tăng chi phí trong hoạt động sản xuất hay sự gia tăng giá nông sản như giá lúa mì làm gia tăng giá thành của các sản phẩm chế biến. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Sự gia tăng chi phí lao động: do tiền lương tăng vượt quá lợi ích do năng suất lao động tăng.
Chi phí tiền lương thường tăng khi tỷ lệ thất nghiệp thấp và do người lao động kỳ vọng lạm phát tăng cao trong tương lai nên yêu cầu một mức lương cao hơn nhằm bảo vệ thu nhập thực tế của họ (tính thông qua sức mua hàng hóa). - Thuế do Chính phủ đánh trên các sản phẩm như rượu, thuốc lá, xăng dầu diesel tăng. Hoặc cũng có thể là do một sự sụt giảm trong tỷ giá dẫn đến giá cả các nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu cho sản xuất tăng cao gây ra lạm phát chi phí đẩy. Lạm phát chi phí đẩy Lạm phát quán tính: (hay còn gọi là lạm phát dự kiến) Là loại lạm phát xảy ra do kỳ vọng của mọi người.
Khi đó, giá cả trong nền kinh tế tăng theo quán tính. Trong trường hợp này cả đường AS và AD đều dịch chuyển dần lên phía trên với cùng một tốc độ, giá cả sẽ tăng nhưng sản lượng và việc làm không đổi. Lạm phát quán tính có xu hướng dai dẳng ở cùng tỷ lệ cho đến khi những sự kiện kinh tế gây ra nó thay đổi. Nếu lạm phát cứ đều đặn, tỷ lệ lạm phát thịnh hành có thể được dự đoán và do đó được đưa vào các hợp đồng tiền lương và tài chính, điều này lại tiếp tục duy trì nó.
Tỷ lệ lạm phát quán tính đôi khi ngụ ý lạm phát cơ bản hay cốt lõi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lạm phát quán tính 2. Các chỉ số đo lường lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index): Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá tương đối theo thời gian của các mặt hàng trong giỏ hàng hóa và dịch vụ đại diện.
Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng. Giỏ hàng hóa, dịch vụ đại diện để tính chỉ số giá tiêu dùng là hệ thống gồm các loại hàng hóa và dịch vụ phổ biến, đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng của dân cư. Ưu điểm của cách tính lạm phát theo chỉ số CPI đó là đơn giản, dễ tính, không tốn nhiều công sức và chi phí do giỏ hàng hóa dùng để tính được lựa chọn ra trong toàn bộ hàng hóa của thị trường và được giữ cố định, không có sự thay đổi nhiều. Tuy nhiên, chỉ số CPI có một số hạn chế như sau: - Chỉ số CPI không phản ánh được sự thay đổi chất lượng hàng hóa nghĩa là giá tăng có thể do chất lượng tăng tuy nhiên CPI không tính tới sự thay đổi chất lượng, do đó chỉ số CPI phóng đại tỷ lệ lạm phát cao hơn thực tế.
- Không phản ánh được sự xuất hiện của hàng hóa mới do hàng hóa mới thường xuyên xuất hiện thay thế hàng hóa cũ trong khi giỏ hàng hóa dùng để tính CPI là giỏ hàng hóa cố định.