CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ SỬA CHỮA TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1. Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ, dịch vụ sửa chữa Khái niệm: - Theo Luật giá 2013, dịch vụ được định nghĩa như sau: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau” ( Luật giá 2013) - Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu marketing hiện đại như Philip Kotler và Armstrong, dịch vụ lại được định nghĩa như sau: “Dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả” (Nguyên lý tiếp thị, Philip Kotler và Armstrong - 2012) - Từ các khái niệm về dịch vụ, chúng ta có thể hiểu dịch vụ sửa chữa xe ôtô là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa bộ phận cung ứng dịch vụ sửa chữa xe ôtô và khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu về dịch vụ sửa chữa của khách hàng. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ: - Dịch vụ là ngành kinh tế có đặc điểm riêng, khác biệt so với các ngành sản xuất vật chất thông thường.
Ngành dịch vụ là ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hồi vốn nhanh. - Kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ thuần túy thường không có hình thái hiện vật cụ thể mà được thể hiện bằng lợi ích cho khách hàng thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về chất lượng phục vụ. SVTH: Lê Thị Hồng Đào 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đào Nguyên Phi - Hoạt động kinh doanh dịch vụ mang tính không thường xuyên, phụ thuộc vào yếu tố khách quan của đối tượng nhiều hơn.
- Về mặt tổ chức quản lý kinh doanh, các doanh nghiệp dịch vụ thường thực hiện quản lý hoạt động kinh doanh theo quy trình thực hiện dịch vụ hoặc theo từng đơn đặt hàng. - Đối tượng của ngành dịch vụ luôn di động và rất phức tạp, số lượng dịch vụ, mức độ phức tạp và thời gian thực hiện dịch vụ là khác nhau. Vì có những đặc điểm trên nên đặc điểm kế toán trong doanh nghiệp dịch vụ cũng sẽ khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp còn lại. Tuy nhiên, tất cả đều hướng tới sự chuẩn xác, tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí sản xuất.
Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất 1. Khái niệm về chi phí sản xuất Chi phí sản xuất được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau: - Theo TS. Ngyễn Thế Khải, CPSX được định nghĩa như sau: “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định”. ( Kế toán sản xuất, TS.
Nguyễn Thế Khải - 2010) Trong đó: + Hao phí lao động sống: Là toàn bộ tiền lương, tiền công mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động tham gia sản xuất tạo ra sản phẩm. + Hao phí lao động vật hóa: Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm, dich vụ. Phan Đức Dũng, chi phí sản xuất lại được định nghĩa như sau: “Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất và đạt được mục đích là tạo ra sản phẩm” ( Kế toán giá thành, TS. Phan Đức Dũng - 2006) SVTH: Lê Thị Hồng Đào 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Đào Nguyên Phi Tóm lại, chúng ta có thể hiểu rằng CP kinh doanh DV là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa và các CP khác mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Những nhận định về CPSX có thể khác nhau về quan điểm, hình thức thể hiện chi phí, nhưng tất cả đều thừa nhận: Chi phí là những phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích SXKD của doanh nghiệp. Phân loại chi phí sản xuất Thông thường người ta hay sử dụng các tiêu thức phân loại chủ yếu sau: Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế của chi phí - Chi phí NVL: Là toàn bộ chi phí về NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, các NVL khác tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm dịch vụ. - Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương phải trả gồm lương chính, lương phụ, phụ cấp theo lương.và các khoản trích theo lương của người lao động.
- Chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua các công cụ dụng cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao của tất cả các tài sản cố định phải trích trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền phải trả cho nhà cung cấp dịch vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh bằng tiền tại doanh nghiệp như tiếp khách, hội họp.
Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng kinh tế - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm. - Chi phí NCTT: Bao gồm các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm như: tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương. SVTH: Lê Thị Hồng Đào 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đào Nguyên Phi - Chi phí sản xuất chung: Gồm những chi phí phát sinh tại bộ phận sản xuất (phân xưởng, đội, tổ sản xuất…).
- Chi phí bán hàng: Bao gồm lương, các khoản trích theo lương tính vào chi phí của người lao động trong hoạt động bán hàng, chi phí về CCDC, NVL, nhiên liệu, khấu hao thiết bị, TSCĐ sử dụng trong hoạt động bán hàng. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương của người quản lý tại các bộ phận của doanh nghiệp, các chi phí như: chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm.của bộ phận quản lý. - Chi phí khác: Bao gồm những chi phí phát sinh không thuộc các nhóm chi phí trên như: chi phí tài chính, chi phí bất thường. Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định.
Có thể quy nạp vào từng đối tượng chịu chi phí như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. - Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều loại sản phẩm dịch vụ. Kế toán phải tập hợp chung sau đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp. Phân loại chi phí theo mô hình ứng xử chi phí - Chi phí khả biến: Là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương đương tỉ lệ thuận với sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
Ngược lại, nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì biến phí là một hằng số. - Chi phí bất biến: Là những chi phí không thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất trong mức độ nhất định. Nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. - Chi phí hỗn hợp: Là những CP bao gồm hỗn hợp cả định phí và biến phí.
Mỗi cách phân loại CP nêu trên đều có tác dụng và có ý nghĩa riêng nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết và bổ sung cho nhau. Các doanh nghiệp cần phải đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem xét, nghiên cứu các cách phân loại này. SVTH: Lê Thị Hồng Đào 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đào Nguyên Phi 1.
Những vấn đề cơ bản về giá thành sản phẩm 1. Khái niệm về giá thành sản phẩm Theo Ths.Đường Thị Huỳnh Liên, giá thành sản phẩm được định nghĩa như sau: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.” (Kế toán tài chính II, Ths. Đường Thị Huỳnh Liên - 2011) Theo TS. Nguyễn Thế Khải, giá thành sản phẩm lại được định nghĩa như sau: “ Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng, một đơn vị sản phẩm, hoặc một công việc, lao vụ đã hoàn thành (Kế toán sản xuất, TS.
Nguyễn Thế Khải- 2010) Tóm lại, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản vật tư, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất. Là căn cứ quan trọng để xác định giá bán và xác định kết quả hoạt động SXKD của DN. Phân loại giá thành sản phẩm Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm, kế toán cần phân biệt các loại giá thành khác nhau. Có hai cách phân loại chủ yếu sau: Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành sản phẩm - Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng trên cơ sở tiêu chuẩn CPSX kế hoạch và sản lượng kế hoạch.
Việc tính toán giá thành kế hoạch được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất sản phẩm dịch vụ. - Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức cũng được tính toán trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. - Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính toán dựa trên cơ sở chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh, tập hợp được trong kỳ cũng như số lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ.
Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất. SVTH: Lê Thị Hồng Đào 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.