Phân tích chi phí y tế trong điều trị Glôcôm tại BV Mắt Trung ương 2024

Phân tích chi phí trực tiếp trong điều trị glôcôm tại Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2024. Khóa luận cung cấp số liệu thực tế và đánh giá chi tiết.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh Glôcôm nguyên phát và chi phí điều trị

Bệnh glôcôm nguyên phát là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trên toàn thế giới. Đây là bệnh lý mắt mạn tính được đặc trưng bởi tăng áp lực nội nhãn, dẫn đến tổn thương thần kinh quang học và teo dần dây thần kinh. Theo các nghiên cứu quốc tế, chi phí điều trị glôcôm tăng liên tục do nhu cầu chăm sóc dài hạn và các phương pháp điều trị tiên tiến. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2024, chi phí điều trị glôcôm trở thành gánh nặng đáng kể cho người bệnh và hệ thống y tế. Việc phân tích chi phí trực tiếp y tế giúp bệnh nhân hiểu rõ hơn về các khoản chi phí cần thiết và lập kế hoạch tài chính phù hợp cho quá trình điều trị dài hạn.

1.1. Khái niệm và phân loại glôcôm nguyên phát

Glôcôm nguyên phát được chia thành hai loại chính: glôcôm góc mở nguyên phátglôcôm góc đóng nguyên phát. Glôcôm góc mở là dạng phổ biến nhất, chiếm khoảng 70-90% các trường hợp glôcôm. Nguyên nhân chủ yếu là sự tăng áp lực nội nhãn do thay đổi mô giống, dẫn đến tắc chứng hoàng ngưu. Glôcôm góc đóng xảy ra khi iris kề sát vòng giãn mống mắt, gây tắc dòng chảy của dịch kính. Cả hai loại đều có khả năng làm hư hại thị lực vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách.

1.2. Tầm quan trọng của việc phân tích chi phí điều trị

Phân tích chi phí trực tiếp y tế trong điều trị glôcôm nguyên phát là rất cần thiết để hiểu rõ gánh nặng kinh tế của bệnh lý này. Các chi phí bao gồm khám chẩn đoán, thuốc nhỏ mắt, phẫu thuật và theo dõi dài hạn. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương, việc thu thập và phân tích dữ liệu chi phí năm 2024 cung cấp thông tin quý báu cho việc lập chính sách y tế và hỗ trợ bệnh nhân.

II. Các phương pháp điều trị glôcôm và chi phí liên quan

Điều trị glôcôm nguyên phát nhằm mục tiêu hạ áp lực nội nhãn để ngăn ngừa tổn thương thêm. Có ba phương pháp chính: điều trị nội khoa, điều trị laser, và phẫu thuật. Điều trị nội khoa bao gồm các loại thuốc nhỏ mắt như chất nhân tạo giảm áp lực, chất ức chế carbonic anhydrase, và chất lựu nhạy. Chi phí điều trị tùy thuộc vào loại thuốc sử dụng, tần suất khám hỏi, và khả năng đáp ứng của từng bệnh nhân. Điều trị laser bao gồm trabeculoplasty, iridotomy, và endoscopic cyclophotocoagulation. Phẫu thuật như trabeculectomy hay lọc công dẫn có chi phí cao nhất nhưng thường cần thiết khi điều trị nội khoa không hiệu quả.

2.1. Chi phí điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa là bước đầu tiên và phổ biến nhất trong quản lý glôcôm. Thuốc nhỏ mắt là thành phần chi phí lớn, bao gồm các loại: prostaglandin analogs, beta-blockers, alpha agonists, và carbonic anhydrase inhibitors. Chi phí hàng tháng cho thuốc nhỏ mắt tại Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2024 dao động từ 300,000 đến 2,000,000 đồng tùy vào loại thuốc. Bên cạnh đó, chi phí khám định kỳ, đo áp lực nội nhãn, và các xét nghiệm chẩn đoán bổ sung cũng chiếm một phần đáng kể.

2.2. Chi phí can thiệp laser và phẫu thuật

Can thiệp laser có chi phí từ 2,000,000 đến 5,000,000 đồng một lần. Trabeculoplasty bằng laser argon hoặc selective laser trabeculoplasty (SLT) có thể giảm áp lực nội nhãn hiệu quả. Phẫu thuật như trabeculectomy có chi phí cao hơn, từ 8,000,000 đến 15,000,000 đồng, nhưng mang lại hiệu quả dài hạn. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần khám theo dõi thường xuyên để kiểm tra miếng vá quanh cơ và các biến chứng tiềm ẩn.

III. Cấu trúc chi phí và phân tích tại Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2024

Nghiên cứu tại Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2024 đã phân tích chi phí trực tiếp y tế cho 100 bệnh nhân glôcôm nguyên phát. Chi phí trực tiếp y tế bao gồm các khoản: chi phí khám và chẩn đoán, chi phí thuốc, chi phí can thiệp laser, chi phí phẫu thuật, và chi phí nằm viện nếu có. Kết quả cho thấy trung bình chi phí hàng năm cho một bệnh nhân glôcôm nguyên phát là 5-8 triệu đồng nếu chỉ điều trị nội khoa, và có thể lên đến 20-25 triệu đồng khi có phẫu thuật. Chi phí trung bình thay đổi tùy theo mức độ bệnh, tần suất khám hỏi, và loại hình điều trị được lựa chọn.

3.1. Phân tích chi phí theo thành phần

Chi phí khám chẩn đoán ban đầu chiếm khoảng 1-2 triệu đồng, bao gồm khám lâm sàng, đo áp lực nội nhãn, perimetry, và OCT. Chi phí thuốc nhỏ mắt định kỳ hàng tháng là 300,000-2,000,000 đồng. Chi phí khám theo dõi mỗi lần từ 500,000-1,000,000 đồng. Nếu cần can thiệp laser, chi phí thêm 2-5 triệu đồng. Nếu cần phẫu thuật, chi phí tăng thêm 8-15 triệu đồng cộng với chi phí chăm sóc sau phẫu thuật.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị

Những yếu tố chính ảnh hưởng chi phí điều trị glôcôm bao gồm: mức độ nặng của bệnh, loại thuốc và số lượng thuốc sử dụng, tần suất khám hỏi, cần thiết can thiệp laser hay phẫu thuật, bệnh kèm theo, và tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Bệnh nhân có glôcôm nặng thường cần nhiều loại thuốc, khám hỏi thường xuyên, và có thể cần phẫu thuật, dẫn đến chi phí cao hơn đáng kể.

IV. Khuyến nghị và hướng dẫn quản lý chi phí điều trị glôcôm

Để giảm gánh nặng chi phí cho bệnh nhân glôcôm, cần có các biện pháp quản lý hợp lý. Khám sàng lọc sớm giúp phát hiện glôcôm ở giai đoạn sớm khi chi phí điều trị thấp hơn. Tuân thủ điều trị dùng thuốc nhỏ mắt đúng cách và đều đặn giúp kiểm soát áp lực nội nhãn hiệu quả, tránh phẫu thuật. Sử dụng thuốc generic có giá rẻ hơn nhưng hiệu quả tương đương với thuốc gốc là lựa chọn hợp lý. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương, bệnh nhân cần được tư vấn rõ ràng về chi phí, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với khả năng kinh tế. Hỗ trợ chính sách bảo hiểm y tế toàn dân giúp giảm gánh nặng chi phí cho nhóm bệnh nhân có thu nhập thấp.

4.1. Chiến lược tối ưu hóa chi phí điều trị

Phát hiện sớm thông qua khám sàng lọc là cách hiệu quả nhất để giảm chi phí dài hạn. Bệnh nhân nên khám định kỳ nếu có yếu tố nguy cơ như tuổi cao, gia đình có tiền sử glôcôm, hoặc áp lực nội nhãn cao. Lựa chọn thuốc generic chất lượng giúp giảm chi phí 30-50% mà không ảnh hưởng hiệu quả. Tuân thủ hướng dẫn dùng thuốc từ bác sĩ và nhân viên dược tránh lãng phí. Các chương trình hỗ trợ chi phí từ chính phủ và các tổ chức từ thiện cần được tìm hiểu và tận dụng.

4.2. Vai trò của bảo hiểm y tế và chính sách hỗ trợ

Bảo hiểm y tế đóng vai trò quan trọng trong giảm tải chi phí điều trị glôcôm. Bệnh nhân có bảo hiểm toàn dân chỉ cần trả 10-20% chi phí, phần còn lại được bảo hiểm chi trả. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương, cần có chính sách giảm giá hoặc hỗ trợ cho bệnh nhân không có bảo hiểm. Các chương trình từ thiện giúp bệnh nhân nghèo có cơ hội điều trị và phòng ngừa mù lòa do glôcôm.

28/12/2025
Nguyễn thị thi phân tích chi phí trực tiếp y tế trong điều trị bệnh glôcôm nguyên phát tại bệnh viện mắt trung ương năm 2024 khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Bệnh glôcôm nguyên phát 1. Định nghĩa Glôcôm là một nhóm các rối loạn về mắt được đặc trưng bởi tổn thương dây thần kinh thị giác tiến triển, trong đó một phần quan trọng là sự gia tăng tương đối áp lực nội nhãn (IOP) có thể dẫn đến mất thị lực không thể phục hồi. [1] Glôcôm nguyên phát là một bệnh lý của dây thần kinh thị giác, đặc trưng bởi sự tổn hại của các tế bào hạch võng mạc, lớp sợi thần kinh thị giác, teo lõm đĩa thị, tổn thương thị trường điển hình và các chức năng thị giác khác (thị lực), thường có liên quan đến nhãn áp cao.

Những tổn hại chức năng và thực thể do glôcôm gây nên sẽ không có khả năng hồi phục. [14] Glôcôm góc đóng nguyên phát là một tình trạng rối loạn về giải phẫu do mống mắt ngoại vi áp ra trước che lấp vùng bè và gây nghẽn góc tiền phòng. [10] Glôcôm góc mở nguyên phát là một hội chứng gồm tổn thương đầu thị thần kinh, đặc trưng bởi sự tổn hại của tế bào hạch võng mạc và lớp sợi thần kinh, teo lõm đĩa thị giác, tổn thương thị trường điển hình, liên quan tới góc tiền phòng mở và nhãn áp tăng hoặc đôi lúc ở mức trung bình. Phân loại glôcôm nguyên phát Có hai loại chính của bệnh glôcôm: Glôcôm nguyên phát và thứ phát.

Cả hai loại này đều có hai phân nhóm chính (góc mở và góc đóng) theo giải phẫu và bệnh sinh lý cơ bản. Bệnh glôcôm nguyên phát hoặc vô căn là kết quả của bệnh glôcôm góc mở và góc đóng không xác định được nguyên nhân [5]. Phân loại glôcôm nguyên phát dựa trên hình thái, giai đoạn tiến triển, tình trạng nhãn áp và diễn biến chức năng thị giác, áp dụng tại các cơ sở chuyên khoa mắt chung [14] được trình bày trong bảng 1. Phân loại glôcôm nguyên phát Tình trạng Diễn biến chức Hình thái Giai đoạn nhãn áp năng thị giác 1.

Sơ phát Không cao 2. Glôcôm góc mở Ổn định 3. Tiến triển Cao 3. Glôcôm thể hỗn hợp Không ổn định 4.

Trầm trọng Rất cao 5. Gần mù và mù 3 Tình trạng Diễn biến chức Hình thái Giai đoạn nhãn áp năng thị giác Cơn glôcôm góc đóng cấp diễn Phân loại bổ sung glôcôm nguyên phát theo hình thái, đặc điểm lâm sàng và vị trí trở lưu thuỷ dịch trong mắt dùng trong các cơ sở y tế chuyên sâu glôcôm [14] được trình bày trong bảng 1. Phân loại bổ sung glôcôm nguyên phát Vị trí trở lưu thủy Hình thái Các dạng khác nhau dịch Có nghẽn đồng tử: - Glôcôm góc đóng cấp tính Glôcôm góc đóng: - Glôcôm góc đóng bán cấp 1. Nghi ngờ góc đóng - Glôcôm góc đóng mạn tính nguyên phát Không có nghẽn đồng tử: 2.

Góc đóng nguyên phát glôcôm mống mắt phẳng. Trước bè 3. Glôcôm nguyên phát góc đóng Glôcôm góc bò Có nghẽn màn chắn thể thủy tinh - thể mi - dịch kính: glôcôm ác tính 1. Glôcôm nguyên phát góc Vùng bè mở có nhãn áp cao Glôcôm góc mở Sau bè ( kể cả xẹp ống 2.

Glôcôm nhãn áp không cao Shlemm) 3. Nhãn áp cao đơn thuần Glôcôm thể hỗn hợp Tổn thương phối hợp 1. Đặc điểm lâm sàng glôcôm nguyên phát 1. Glôcôm góc đóng nguyên phát a.

Glôcôm góc đóng nguyên phát cấp tính 4 Bệnh khởi phát đột ngột, có thể xảy ra sau một số yếu tố phát động như xúc động mạnh, sau khi dùng một số thuốc có tác dụng lên hệ thần kinh thực vật, hoặc ở lâu trong bóng tối. Với các triệu chứng chủ quan như: Nhìn mờ nhanh, đột ngột, như qua màn sương mù, nhìn nguồn đèn thấy có quầng xanh đỏ, đau nhức mắt, đau nửa đầu cùng bên. Toàn thân: mệt mỏi, buồn nôn, nôn khan hoặc nôn vọt, đau bụng, chậm nhịp tim, vã mồ hôi… Mi mắt phù nề do mắt kích thích, sợ ánh sáng, chảy nước mắt nhiều, mắt đỏ. Giác mạc phù nề, mất sắc bóng, có bọng biểu mô, tủa sắc tố mặt sau giác mạc, mặt trước thể thủy tinh.

Đồng tử giãn nửa vời hoặc giãn tối đa, có thể méo, biến dạng, mất phản xạ ánh sáng, có thể mất viền sắc tố bờ đồng tử, dính bờ đồng tử với mặt trước thể thuỷ tinh. Thể thuỷ tinh phù đục, có thể có rạn bao trước tạo thành đám đục nhỏ dưới bao trước thể thuỷ tinh. Glôcôm góc đóng bán cấp Triệu chứng chủ quan và dấu hiệu thực thể gần giống như cơn glôcôm cấp tuy nhiên mức độ biểu hiện không rầm rộ. Bệnh thường biểu hiện bằng những đợt tăng nhãn áp, hay xuất hiện về chiều tối, gây nhìn mờ, nhìn đèn có quầng xanh đỏ, đau nhức nhẹ trong mắt, đau đầu nhưng tự qua khỏi.

Glôcôm góc đóng mạn tính Biểu hiện lâm sàng âm thầm, gần giống như glôcôm góc mở nên nhiều người bệnh khi phát hiện ra thì bệnh đã ở giai đoạn nặng. Người bệnh thường có những cơn nhức đầu, nhức mắt sau một ngày lao động mệt nhọc, căng thẳng. Suy giảm thị trường nhìn dần dần: Giống như glôcôm góc mở, sự mất thị trường nhìn thường bắt đầu ở ngoại vi và tiến triển dần dần. Bệnh nhân có thể không nhận thấy sự mất này cho đến khi bệnh đã tiến triển đáng kể.

Tăng áp lực nội nhãn (IOP): Mặc dù không luôn luôn cao như trong trường hợp cấp tính, IOP vẫn thường cao hơn mức bình thường. Tuy nhiên, cũng có thể gặp trường hợp PACG với IOP trong giới hạn bình thường. Glôcôm mống mắt phẳng Là hình thái glôcôm góc đóng xảy ra trên những người bệnh có sự bất thường cấu trúc ở chân mống mắt và thể mi (phát hiện bằng soi góc và UBM). Cơ chế gây tăng NA là do góc tiền phòng bị nghẽn khi đồng tử giãn.

Glôcôm ác tính nguyên phát 5 Biểu hiện lâm sàng tối cấp. Nhãn áp tăng rất cao. Môi trường trong suốt phù nề, mắt kích thích nhiều nên thường không soi được đáy mắt và không làm được thị trường. Glôcôm góc mở nguyên phát Glôcôm góc mở nguyên phát thường xuất hiện âm thầm, không đau nhức mắt và đầu, tiến triển chậm, lần lượt qua từng giai đoạn.

Bệnh hay gây tổn thương cả hai mắt nhưng mức độ tiến triển lại ít khi đồng đều, thường có một mắt nặng hơn mắt bên kia. Các triệu chứng thường biểu hiện rất kín đáo (trừ trường hợp có tổn thương nặng trên thị trường). Vì vậy người bệnh khó phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm. Đa số người bệnh chỉ có cảm giác hơi căng tức mắt hoặc nhìn mờ nhẹ thoáng qua khi làm việc bằng mắt nhiều, khi căng thẳng thần kinh, khi lo lắng nhiều.

Có những người bệnh nhìn như có màn sương mỏng trước mắt vào buổi sáng. Mắt mờ dần khiến cho người bệnh không nhận thấy. Có khi tình cờ phát hiện ra mắt đã bị mù từ lúc nào không biết. Điều trị glôcôm nguyên phát Bảng 1.3 trình bày phương pháp điều trị glôcôm nguyên phát với hai phân nhóm chính là glôcôm góc đóng nguyên phát và glôcôm góc mở nguyên phát.

Phương pháp điều trị glôcôm nguyên phát Điều trị glôcôm góc đóng nguyên Điều trị glôcôm góc mở nguyên phát phát Nguyên Điều trị cả 2 mắt. Mắt chưa bị lên Ngay sau khi chẩn đoán xác định tắc chung cơn tăng nhãn áp cần điều trị dự bệnh glôcôm góc mở nguyên phòng. Bắt đầu điều trị cấp cứu bằng phát: chỉ định điều trị cấp cứu hạ thuốc hạ NA, co đồng tử, chuẩn bị nhãn áp bằng thuốc tra mắt và điều kiện an toàn cho điều trị bằng toàn thân ( uống, tiêm, truyền). laser và phẫu thuật.

Lựa chọn Sau khi nhãn áp đã hạ xuống mức phương pháp laser và phẫu thuật dựa bình thường: tiếp tục duy trì điều vào tình trạng góc tiền phòng. Nếu trị bằng thuốc hạ nhãn áp tra tại góc tiền phòng còn mở ≥ ½ chu vi: mắt. Nếu điều trị thuốc tra mắt cắt mống mắt chu biên bằng laser không hạ được nhãn áp: chuyển hoặc phẫu thuật. Nếu góc tiền phòng điều trị laser.

Nếu điều trị bằng đóng ≥ ½ chu vi: phẫu thuật lỗ rò. thuốc hạ nhãn áp tra mắt và laser không hiệu quả: chuyển điều trị phẫu thuật. Nếu người bệnh không có điều kiện theo dõi hoặc 6 Điều trị glôcôm góc đóng nguyên Điều trị glôcôm góc mở nguyên phát phát điều trị thuốc lâu dài hoặc cơ sở y tế không có máy laser điều trị: chỉ định can thiệp phẫu thuật hạ nhãn áp sớm. Điều trị Hạ nhãn áp cấp cứu bằng thuốc: Nguyên tắc chọn thuốc: thuốc Co đồng tử bằng thuốc cường phó - Thuốc có tác dụng đạt và duy trì giao cảm (pilocarpine, glaucostat, NA đích ổn định lâu dài.

Bổ sung thêm thuốc hạ động nhãn áp trong ngày < nhãn áp nhóm ức chế -giao cảm 5mmHg (với NA kế Maclakov). (timolol, betaxolol) hoặc ức chế - Dung nạp tốt. men CA(brinzolamide, dorzolamide, - Không gây tác dụng không acetazolamid), nhóm tăng thẩm thấu mong muốn. tác dụng hạ nhãn áp trong những trường hợp nhãn áp rất cao.

Nguyên tắc chỉ định thuốc điều trị: Phối hợp thêm giảm đau, an thần để tăng thêm tác dụng. - Bắt đầu bằng một thuốc với nồng độ thấp nhất. - Nếu chưa đạt hiệu quả hoặc gây tác dụng phụ: thay một thuốc nhóm khác. - Nếu vẫn không đạt hiệu quả: bổ sung thêm thuốc nhóm khác hoặc dùng thuốc phối hợp cố định.

Điều trị - Cắt mống mắt chu biên bằng laser: -Đốt laser vùng bè: Dùng laser đốt laser chỉ định nếu điều trị thuốc NA điều trực tiếp lên vùng bè để tạo ra chỉnh, đồng tử co và góc tiền phòng những sẹo co kéo có tác dụng làm còn mở > ½ chu vi của góc. mở rộng các lỗ bè xung quanh - Laser tạo hình góc tiền phòng: chỉ giúp thuỷ dịch thấm qua dễ dàng định khi NA không điều chỉnh sau hơn. Mỗi đợt điều trị làm trên 180 o điều trị laser cắt mống mắt chu của vùng bè, sau đó nếu cần sẽ biên. làm nốt 180o còn lại.

7 Điều trị glôcôm góc đóng nguyên Điều trị glôcôm góc mở nguyên phát phát - Đốt laser vùng bè chọn lọc: Sử dụng laser YAG Q-switched 532 nm. Năng lượng laser chỉ được các tế bào có sắc tố của vùng bè hấp thụ nên không gây phá huỷ vùng bè nhiều như tạo hình bè theo phương pháp kể trên. Điều trị - Phẫu thuật cắt mống mắt chu biên: - Phẫu thuật lỗ rò: Phẫu thuật lỗ rò phẫu thuật Như với laser cắt mống mắt chu (cắt bè, cắt trước bè, phẫu thuật kẹt biên. Thực hiện ở cơ sở không có củng mạc .) có tác dụng hạ nhãn máy laser điều trị hoặc mống mắt áp tốt trong đa số các trường hợp.

quá dày không làm laser cắt mống - Phẫu thuật cắt củng mạc sâu mắt chu biên được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ