Nghiên Cứu Chế Tạo Than Biến Tính Từ Lõi Ngô Để Xử Lý Amoni Trong Nước Sinh Hoạt

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu chế tạo than biến tính từ lõi ngô định hướng ứng dụng xử lý amoni trong nước, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Trường Đại Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Hiện trạng ô nhiễm amoni trong nước ngầm và các phương pháp xử lý

1.1.1. Hiện trạng ô nhiễm amoni trong nước ngầm

1.1.2. Nguyên nhân ô nhiễm amoni trong nước ngầm

1.1.3. Tác hại của amoni

1.1.3.1. Ảnh hưởng đối với sức khỏe
1.1.3.2. Ảnh hưởng đối với các hệ thống xử lý nước sinh hoạt

1.1.4. Các phương pháp xử lý amoni

1.1.4.1. Phương pháp sinh học
1.1.4.1.1. Quá trình nitrat hóa và khử nitrat hóa
1.1.4.1.2. Quá trình Annamox, Sharon/Annamox
1.1.4.1.3. Xử lý amoni bằng thực vật
1.1.4.1.4. Ưu, nhược điểm của phương pháp
1.1.4.2. Phương pháp hóa lý
1.1.4.2.1. Làm thoáng để khử amoni ở môi trường pH cao
1.1.4.2.2. Clo hóa với nồng độ cao hơn điểm đột biến
1.1.4.2.3. Trao đổi ion
1.1.4.2.4. Hấp phụ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về than biến tính từ lõi ngô

Than biến tính từ lõi ngô là một loại vật liệu hấp phụ tiềm năng trong việc xử lý ô nhiễm amoni trong nước sinh hoạt. Lõi ngô, một phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, có thể được chế tạo thành than sinh học và than hoạt tính. Việc chế tạo này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có. Theo nghiên cứu, than biến tính từ lõi ngô có khả năng hấp phụ amoni cao hơn so với các loại than sinh học thông thường. Điều này mở ra cơ hội ứng dụng thực tiễn trong việc xử lý nước sinh hoạt, đặc biệt là ở những khu vực có hàm lượng amoni cao.

1.1. Tình hình ô nhiễm amoni trong nước sinh hoạt

Ô nhiễm amoni trong nước sinh hoạt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam. Theo báo cáo, nhiều khu vực, đặc biệt là miền Bắc, ghi nhận hàm lượng amoni vượt mức cho phép. Amoni không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn gây cản trở trong quá trình xử lý nước. Việc phát hiện và xử lý amoni là cần thiết để đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt. Các phương pháp xử lý hiện tại như làm thoáng, clo hóa, và hấp phụ đều có những hạn chế nhất định, do đó việc phát triển vật liệu mới như than biến tính từ lõi ngô là rất quan trọng.

II. Quy trình chế tạo than biến tính từ lõi ngô

Quy trình chế tạo than biến tính từ lõi ngô bao gồm các bước như thu gom, xử lý và biến tính lõi ngô. Đầu tiên, lõi ngô được thu gom và làm sạch để loại bỏ tạp chất. Sau đó, lõi ngô được nung ở nhiệt độ cao để tạo ra than sinh học. Cuối cùng, than sinh học được biến tính bằng các hóa chất để tăng cường khả năng hấp phụ amoni. Các nghiên cứu cho thấy rằng than biến tính từ lõi ngô có dung lượng hấp phụ amoni cao, từ 16,6 đến 22,6 mg/g, gấp 3-5 lần so với than sinh học thông thường.

2.1. Đặc trưng vật lý và hóa học của than biến tính

Than biến tính từ lõi ngô có các đặc trưng vật lý và hóa học nổi bật. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng than biến tính có diện tích bề mặt lớn, cấu trúc xốp và nhiều nhóm chức axit trên bề mặt. Những đặc điểm này giúp tăng cường khả năng hấp phụ amoni. Việc phân tích các đặc trưng này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hấp phụ mà còn hỗ trợ trong việc tối ưu hóa quy trình chế tạo. Các thông số như pH, nhiệt độ và thời gian nung cũng ảnh hưởng đến chất lượng của than biến tính.

III. Ứng dụng của than biến tính trong xử lý amoni

Than biến tính từ lõi ngô đã được thử nghiệm trong việc xử lý amoni trong nước sinh hoạt. Kết quả cho thấy khả năng loại bỏ amoni hiệu quả, đặc biệt trong các điều kiện thực tế. Việc áp dụng than biến tính không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn giảm thiểu chi phí xử lý. Các phương pháp hấp phụ tĩnh và hấp phụ cột đã được sử dụng để đánh giá hiệu quả của than biến tính. Kết quả cho thấy rằng than biến tính có thể loại bỏ amoni một cách hiệu quả, góp phần vào việc cải thiện chất lượng nước sinh hoạt.

3.1. Tác động của amoni đến sức khỏe và môi trường

Amoni có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người và môi trường. Khi nước chứa amoni được sử dụng, nó có thể chuyển hóa thành các hợp chất độc hại như nitrit và nitrat, gây ra nhiều bệnh tật. Ngoài ra, amoni còn làm giảm hiệu quả của các hệ thống xử lý nước, dẫn đến ô nhiễm thứ cấp. Việc loại bỏ amoni khỏi nước sinh hoạt là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường. Sử dụng than biến tính từ lõi ngô là một giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề này.

IV. Kết luận và triển vọng nghiên cứu

Nghiên cứu chế tạo than biến tính từ lõi ngô đã mở ra hướng đi mới trong việc xử lý ô nhiễm amoni trong nước sinh hoạt. Với khả năng hấp phụ cao và chi phí thấp, than biến tính từ lõi ngô có tiềm năng lớn trong ứng dụng thực tiễn. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình chế tạo và đánh giá hiệu quả trong các điều kiện thực tế. Việc phát triển và ứng dụng than biến tính không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

4.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc mở rộng ứng dụng của than biến tính trong các lĩnh vực khác như xử lý nước thải công nghiệp và nông nghiệp. Ngoài ra, việc nghiên cứu các phương pháp biến tính mới có thể giúp nâng cao khả năng hấp phụ của than. Các nghiên cứu này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề ô nhiễm nước hiện nay.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Những năm gần đây, nguồn tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam đang có xu hướng suy giảm về số lượng và chất lượng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các hoạt động sản xuất, khai thác. Theo báo cáo kết quả thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch vệ sinh môi trường của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014)[1], chỉ có 32% hộ dân trong số 84,5% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh từ các công trình cấp nước tập trung, còn lại từ các công trình nhỏ lẻ như giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước mưa. Đối với các hộ gia đình sử dụng nguồn cấp nước sinh hoạt trực tiếp từ nước ngầm có thể chịu các rủi ro đối với sức khỏe do chất lượng nước không được kiểm soát. Nước dưới đất ở nước ta thường bị ô nhiễm bởi các chỉ tiêu sắt, mangan, asen, amoni.

Nhiều báo cáo của các cơ quan quản lý cho thấy, hàm lượng amoni trong nước ngầm đã vượt giới hạn cho phép nhiều lần, đặc biệt ở các tỉnh miền bắc của Việt Nam như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội. Ở khu vực phía nam, điển hình là nhiều quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh cũng đã ghi nhận được sự ô nhiễm amoni với hàm lượng rất cao [4]. Một số phương pháp thường sử dụng trong thực tế để xử lý amoni trong nước là: làm thoáng để khử NH3 ở môi trường pH cao; Clo hóa đến điểm đột biến; trao đổi ion; hấp phụ và sinh học. Trong đó phương pháp hấp phụ sử dụng các vật liệu như zeolite, than sinh học được xem là các kỹ thuật đơn giản, hiệu quả, tiềm năng để loại bỏ amoni trong nước [5, 6].

Than hoạt tính, than sinh học là vật liệu được sử dụng rộng rãi để xử lý các chất ô nhiễm trong môi trường như kim loại nặng, chất hữu cơ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và ứng dụng các vật liệu này để xử lý amoni còn hạn chế do các vật liệu đã nghiên cứu có dung lượng hấp phụ thấp. Điều này là do than sinh học và than hoạt tính có lượng nhóm chức axit bề mặt khá thấp trong khi đó cơ chế chủ yếu để hấp phụ amoni liên quan đến số lượng các nhóm chức axit bề mặt vật liệu hấp phụ. Điển hình như than hoạt tính được tạo ra từ tro núi lửa đạt dung lượng hấp phụ amoni khoảng 5,4 mg/g [7]; từ vỏ trấu là 3,2 mg/g [8]; từ gáo dừa là 2,3 mg/g [9] và từ than hoạt tính thương mại là 0,5 mg/g [10].

Đối với than sinh học, dung lượng hấp phụ amoni chỉ 1 đạt từ 1,7 đến 5,29 mg/g [11, 12]. Để tăng khả năng hấp phụ amoni của than thì các phương pháp biến tính thường được sử dụng. Than hoạt tính được chế tạo từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, trong đó tận dụng các vật liệu thải từ phụ phẩm nông nghiệp đang là một xu hướng nghiên cứu và ứng dụng được nhiều nhà khoa học quan tâm. Đối với lõi ngô dạng phụ phẩm nông nghiệp đã được một số tác giả trên thế giới nghiên cứu, chế tạo thành than sinh học và than hoạt tính ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ và một vài tác nhân khác trong nước [13,14,15, 16].

Đã có một số nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu chế tạo than sinh học từ các phụ phẩm nông, lâm nghiệp như vỏ trấu, thân cây lạc, đậu,. và ứng dụng trong việc xử lý ô nhiễm nguồn nước [17,18]. Tuy nhiên, hiên nay chưa có công bố nào về nghiên cứu chế tạo than sinh học từ lõi ngô ứng dụng để xử lý loại bỏ amoni trong nước. Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp với nguồn phụ phẩm và sinh khối thải rất lớn trong đó có lõi ngô.

Theo số liệu thông kê quốc gia năm 2015, diện tích trồng ngô và sản lượng ngô tại Việt Nam đạt 1. Do đó, lõi ngô có thể được xem là nguồn phụ phẩm dồi dào, sẵn có và rẻ tiền nếu tận dụng để chế tạo than sinh học. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu chế tạo than biến tính từ lõi ngô định hướng ứng dụng xử lý amoni trong nước sinh hoạt”.  Mục tiêu và nội dung nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu:  Xây dựng được quy trình chế tạo than sinh học, than sinh học biến tính, than hoạt tính biến tính từ phụ phẩm nông nghiệp là lõi ngô thải.

 Đánh giá được đặc trưng vật lý và hóa học của than sinh học biến tính và than hoạt tính  Áp dụng than sinh học biến tính, than hoạt tính để loại bỏ amoni trong nước giả định và nước thải thực tế trong nước thải theo kỹ thuật hấp phụ tĩnh và kỹ thuật hấp phụ cột Nội dung nghiên cứu:  Khảo sát, xác định các thông số công nghệ của quy trình chế tạo than sinh học, than biến tính từ lõi ngô.  Xác định các đặc trưng cấu trúc, tính chất vật liệu của than biến tính. 2  Khảo sát khả năng xử lý amoni của than biến tính bằng kỹ thuật hấp phụ tĩnh.  Khảo sát khả năng xử lý amoni của than biến tính bằng kỹ thuật hấp phụ cột (qui mô phòng thí nghiệm và quy mô pilot).

 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Ý nghĩa khoa học: Đã xác định được các thông số công nghệ cho quy trình chế tạo than sinh học từ lõi ngô, quy trình chế tạo than biến tính bằng 02 phương pháp khác nhau. Xác định được dung lượng hấp phụ của than sinh học biến tính, than hoạt tính biến tính đạt từ 16,6 đến 22,6 mg/g cao gấp 3-5 lần so với than sinh học (3,92 mg/g). Xác định được các thông số động học hấp phụ và cân bằng hấp phụ của quá trình hấp phụ amoni lên than biến tính. Ý nghĩa thực tiễn: Từ các kết quả của luận án, có thể chế tạo than biến tính từ lõi ngô định hướng ứng dụng xử lý amoni trong nước sinh hoạt từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp rất dồi dào và chi phí thấp ở Việt Nam.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hiện trạng ô nhiễm amoni trong nước ngầm và các phương pháp xử lý 1. Hiện trạng ô nhiễm amoni trong nước ngầm Việt Nam là một trong số các quốc gia có nguồn tài nguyên nước ngầm rất lớn, đây cũng là nguồn nước chính để cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân. Theo số liệu thống kê năm 2015 của Cục quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, khoảng 40% lượng nước cấp cho đô thị và gần 80% lượng nước sử dụng cho sinh hoạt ở nông thôn được khai thác từ nước ngầm [3].

Theo báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước và các nghiên cứu khoa học gần đây, chất lượng nước ngầm ở Việt Nam đang xuất hiện tình trạng ô nhiễm cục bộ trên cả nước, trong đó amoni là một trong số các chỉ tiêu được phát hiện với hàm lượng cao hơn giới hạn cho phép so với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm, nước sinh hoạt [3]. Cũng theo các báo cáo này, hiện chỉ có khu vực Tây Nguyên, nguồn nước ngầm chưa có dấu hiệu ô nhiễm còn lại hầu như các địa phương khác trên cả nước đều phát hiện thấy sự ô nhiễm nguồn nước ngầm ở các mức độ khác nhau. Hàm lượng amoni trong nước ngầm ở cả tầng nông và tầng sâu khảo sát được tại các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ; một số tỉnh đồng bằng Nam Bộ vượt ngưỡng cho phép nhiều lần. Các điểm quan trắc phát hiện hàm lượng amoni cao nhất ở miền Bắc thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Hà Nội.

Xác suất các nguồn nước ngầm nhiễm amoni có nồng độ cao hơn quy chuẩn của Bộ y tế về chất lượng nước sinh học (3 mg/l, QCVN 02:2009/BYT) khoảng 70-80% [2]. Ở hai khu vực đô thị lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hàm lượng amoni quan trắc được cao hơn giới hạn cho phép nhiều lần. Ví dụ, tại điểm quan trắc tại phường Phú Lãm, quận Hà Đông, Hà Nội, hàm lượng amoni ghi nhận được là 70 mg/l cao hơn giá trị cho phép trong QCVN 02:2009/BYT là 23 lần hay mẫu nước ngầm ở trạm Đông Thạch (huyện Hóc Môn) bị ô nhiễm amoni cao hơn mức cho phép 22 lần [4]. Như vậy, có thể cho rằng phần lớn các nguồn nước ngầm tại Việt Nam không đạt tiêu chuẩn về amoni, nên việc giảm thiểu, loại bỏ chúng ra khỏi thành phần nước sinh hoạt là rất cần thiết.

4 Nguyên nhân ô nhiễm amoni trong nước ngầm Trong nghiên cứu nguồn gốc ô nhiễm amoni tại Hà Nội, tác giả Phạm Quý Nhân giải thích, hàm lượng amoni cao trong nước ngầm vùng nghiên cứu có nguồn gốc là sự pha trộn bởi nguồn gốc tự nhiên (từ sự phân hủy vật liệu hữu cơ trong đất) và nguồn phân hữu cơ của các hệ thống vệ sinh, từ các hệ thống nước thải và có thể từ nguồn phân bón của các hoạt động nông nghiệp Sự có mặt với hàm lượng cao của amoni trong đất tầng Pleistocene là nguyên nhân chính dẫn đến hàm lượng cao của amoni trong nước ngầm tầng Pleistocene. Ngoài ra quá trình amôn hóa các hợp chất nitơ trong nước thành amoni và sự xâm nhập của nước thải của thành phố cũng như các nguồn phân bón hữu cơ, phân gia súc gia cầm trong canh tác nông nghiệp vào các tầng chứa nước [20]. Tác hại của amoni Ảnh hưởng đối với sức khỏe Tác hại của ô nhiễm amoni đến sức khỏe con người đó là trong quá trình khai thác, sử dụng, khi nước tiếp xúc với các nguồn chứa oxy và sự tham gia của các vi khuẩn, amoni sẽ chuyển hóa thành các hợp chất nitrit (NO2-) và nitrat (NO3-) là những chất có tính độc hại tới con người, trong trường hợp các hợp chất này chuyển hóa thành các hợp chất dạng nitrosamin sẽ có khả năng gây ung thư cho con người. Ngoài ra, NO2- có thể gây ra hội chứng xanh xao ở trẻ em do NO2- phản ứng với huyết sắc tố mang O2, oxy hóa sắt để tạo thành methaemoglobin, do đó làm giảm khả năng mang oxi trong máu và có khả năng gây tử vong[20].

Ảnh hưởng đối với các hệ thống xử lý nước sinh hoạt Amoni còn là yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nước cấp thể hiện ở hai khía cạnh: + Sự có mặt của amoni trong nước sẽ làm giảm tác dụng khử trùng của Clo do amoni phản ứng với Clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém hơn so với clo hàng 100 lần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Chế Tạo Than Biến Tính Từ Lõi Ngô Để Xử Lý Amoni Trong Nước Sinh Hoạt" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc chế tạo than biến tính từ lõi ngô, nhằm xử lý amoni trong nước sinh hoạt. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn tận dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường. Các phương pháp chế tạo và ứng dụng than biến tính được thảo luận chi tiết, mang lại cái nhìn sâu sắc cho độc giả về công nghệ xử lý nước hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng của vật liệu trong xử lý môi trường, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính, nơi nghiên cứu về vật liệu carbon hoạt tính và ứng dụng của nó trong xử lý nước. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam cũng cung cấp thông tin về các hợp chất tự nhiên có khả năng xử lý ô nhiễm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu vật liệu khung hữu cơ kim loại UIO66 và khả năng hấp phụ asen trong môi trường nước, một nghiên cứu liên quan đến vật liệu hấp phụ trong xử lý nước. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các công nghệ và vật liệu trong lĩnh vực xử lý nước.