mở đầu bằng việc gieo trồng các giống lúa cải tiến, chịu phân, cho năng suất cao, kết hợp với việc sử dụng nhiều phân bón, đặc biệt là phân đạm thì bệnh bạc lá thực sự trở nên nghiêm trọng và thường xuyên gây hại trong vụ mùa. Bệnh đã phát triển thành dịch lớn ở một số tỉnh Đồng bằng sông hồng trong vòng từ năm 1968 - 1975 [43]. Những năm gần đây, bệnh bạc lá có xu hướng tăng lên và gây hại ở cả vụ xuân. Điều này do nhiều nguyên nhân gây 14 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc nên, trong đó phải kể đến việc gieo trồng và sử dụng rộng rãi các giống lúa nhập nội từ Trung Quốc, chưa qua khâu đánh giá tính chống bệnh.
Phần lớn các giống này có phản ứng nhiễm vừa đến nhiễm nặng đối với các chủng vi khuẩn gây bệnh bạc lá ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của cục Bảo vệ Thực vật, từ năm 1999 - 2003 diện tích lúa bị hại do bệnh bạc lá gây ra trong cả nước là 108.691,4 ha (miền Bắc là 86.429,2 ha; miền Nam là 22.262,2 ha), trong đó diện tích bị hại nặng nhất là 156,76 ha và diện tích mất trắng là 80 ha. Từ năm 2010 đến năm 2011 diện tích cây mắc bệnh tăng nhẹ và đột ngột tăng cao trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2012. Diện tích lúa bị mắc bệnh năm 2012 là 90,543 nghìn ha, cao gấp gần 4 lần so với năm 2011 (26 nghìn ha) đến năm 2013 diện tích lúa bị mắc bệnh đã tăng đến 135,4 nghìn ha.
Trong đó diện tích lúa bị nhiễm nặng là hơn 9,5 nghìn ha. Bệnh bạc lá phát sinh trong suốt thời kỳ lúa chín nhưng các triệu chứng bệnh điển hình thường xuất hiện từ thời kỳ đẻ nhánh đến thời kỳ trổ và chín, đạt đỉnh ở giai đoạn ra hoa [17]. Nếu xảy ra trong thời kỳ đẻ nhánh sớm sẽ dẫn đến mất mùa một phần hoặc hoàn toàn, bệnh lây lan dễ dàng hơn ở vùng khí hậu ấm áp và ẩm. Lúa bị nhiễm bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv.
oryzae 15 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc 1. Tác nhân gây bệnh bạc lá lúa Tác nhân gây bệnh bạc lá lúa là vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. Trước đây, vi khuẩn này còn được gọi bằng rất nhiều tên khác như: Bacillus Oryzae Hori et Boruka, Pseudomonas Oryzae Uyeda et Ishiyama, Xathomonas Oryzae, Dowson [42]. Vi khuẩn này có tế bào hình que với đầu tròn, với chiều dài từ 0,8 - 1 µm chiều rộng 0,4 đến 0,7 μm, bao quanh tế bào là một màng nhầy.
Đây là loại vi khuẩn Gram âm và không sinh bào tử, khuẩn lạc hình tròn, lồi, bề mặt nhẵn, màu vàng [3]. Vi khuẩn này chủ yếu xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn rồi dẫn đến nhiễm trùng toàn thân cây lúa. Những chất dinh dưỡng ở dạng phức tạp sẽ được chuyển thành dạng đơn giản, nhờ hệ thống men của vi khuẩn trước khi được hấp thụ [35]. Ngoài ra vi khuẩn còn có thể xâm nhập qua lỗ thùy khổng ở mép lá, đầu mút lá dễ dàng gây tổn thương dọc theo gân lá [23,48].
Khuẩn lạc và tế bào của vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae Xoo là một loại vi khuẩn Gram âm sản sinh lượng lớn polysaccharide ngoại bào (EPS). Các chủng đột biến thiếu EPS không có khả năng gây bệnh bạc lá lúa [30]. Xoo chỉ có thể tồn tại trong đất từ một đến hai tháng, ngoài ra Xoo có thể tồn 16 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc tại trong hạt giống của các cây lúa bị nhiễm, hay trong rơm rạ.
Các vi khuẩn gây bệnh bạc lá xâm nhập vào cây qua các vết thương xây xát ở trên lá do mưa bão gây ra và qua các lỗ khí khổng, sau đó sẽ gây bệnh trên các mô và từ đó sẽ nhân và lây lan toàn bộ cây dẫn đến nhiễm trùng toàn thân [14]. Vi khuẩn lây lan thông qua nước tưới, mưa và gió. Ở một số nước nhiệt đới, do thói quen xén đầu lá mạ trước khi cấy vô tình đã tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập vào bên trong và gây hại [38]. Ngoài con đường xâm nhập qua lá, vi khuẩn còn có thể xâm nhập vào hệ thống mạch nhựa ở rễ qua phần rễ bị đứt trong quá trình nhổ mạ cấy.
Khi vi khuẩn xâm nhập qua rễ, cây lúa thường biểu hiện triệu chứng Kresek, làm lá và toàn bộ cây bị héo rũ. Sự sinh sản độc tố của vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae: Theo Ogawa và cộng tác viên (1996) lần đầu tiên đã tách, chiết được Phenylacetic axit thô trên môi trường Wakimoto nuôi cấy vi khuẩn sau đó sử dụng dịch chiết để xử lí mạ. Kết quả cho thấy Phenylacetic axit có khả năng gây héo mạ non, ức chế sự phát triển của cây mạ sau 3 ngày xử lí.
Puruthosaman và Prasad (1972) đã tách chiết được phenolic trong môi trường nuôi cấy vi khuẩn Xoo sau đó xử lý lá lúa non và cho kết quả lá bị héo rất nhanh chỉ sau 12h, trong khi đó, đối chứng xử lí bằng nước cât vô trùng sau 4 ngày lá lúa mới bắt đầu vàng úa nhưng không có hiện tượng héo như khi xử lý dịch chiết vi khuẩn Xoo[39]. Các biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa Bệnh bạc lá lúa gây tổn thất nặng nề và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa gạo, do vậy đòi hỏi phải có chiến lược quản lý nhằm chống lại sự bùng phát của dịch bệnh. Bước đầu cần thực hiện để kiểm soát bệnh bạc lá lúa là làm 17 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc giảm tác nhân gây bệnh và ngăn chặn phát triển của tác nhân gây bệnh trên cây chủ. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc sử dụng các hóa chất, giống kháng bệnh, và tác nhân sinh học.
Sử dụng thuốc hóa học Thuốc hóa học được sử dụng để giết chết hoặc ức chế sự nhân lên của các tác nhân gây bệnh bằng cách ngăn chặn con đường trao đổi chất của vi khuẩn. Một số hóa chất được sử dụng để kiểm soát bệnh bạc lá lúa như Bordeaux có hoặc không có đường, hỗn hợp đồng xà phòng, thuốc diệt nấm và đồng thủy ngân, dịch phun oxychloride. Ở Ấn Độ, sử dụng bột Clo trong xử lý nước cũng làm giảm bệnh [5]. Một số chất hữu cơ tổng hợp diệt khuẩn cũng đã được sử dụng như niken dimethyl dithiocarbamate, dithianone, phenazine và phenazine N- oxit.
Ngoài ra, thuốc diệt nấm dithiocarbamate cũng ức chế sự phát triển của Xoo bằng cách ngăn chặn quá trình sinh tổng hợp acid béo và lipid [33]. Một vài loại thuốc kháng sinh như streptocycline và các thuốc diệt nấm như zineb, carbendazim cũng được chứng minh là có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh in vitro. Một số chất diệt khuẩn như kagucamycin, phenazin và streptomycin có thể ngăn chặn được các vi khuẩn gây bạc lá lúa, nhưng lại có nhược điểm là giá thành đắt và không thân thiện với môi trường. Việc sử dụng các thuốc hóa học luôn mang lại hậu quả rất nặng nề đối với môi trường.
Đồng thời, cũng chưa có phương thức kiểm soát bằng hóa chất nào mang lại hiệu quả cao bởi vì khả năng tồn tại và phát triển của các chủng kháng thuốc. Chọn giống lúa kháng bệnh Chọn giống lúa kháng bệnh hiện nay cũng là phương pháp đang được quan tâm, không gây ô nhiễm môi trường và được coi là biện pháp chiến lược trong bất kỳ chương trình phòng chống bệnh nào. Hiện nay, 23 gen kháng bệnh bạc lá lúa 18 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc (Xa) đã được công bố (bảng 2. Các đoạn mồi cũng đã được thiết kế để phát hiện các gen Xa trên các giống lúa khác nhau (bảng 2.
Đặc điểm và nguồn gốc của các gen Xa kháng bệnh bạc lá lúa Tên gen Tên gen Nhiễm Giống, dòng Xa mớiXa1 Xa cũ Xa1 sắc thể4 NST lúa đại diện Kogyoku Xa1-h Xa-1h NST 4 IR28, IR29, IR30 Xa2 Xa2 NST 4 Rentai Emas2, tẻ tép Xa3 Xa-w NST11 Wase Aikoku3 Xa-4b NST11 Semora Mangga Xa-6 NST-5 Zenith Xa-9 NST-6 Sateng Xa4 Xa-4 NST11 TKM6, IR20, UR22 Xa5 Xa-5 NST 4 DZ192,IR1545-339 Xa7 Xa-7 NST 4 DV85, DZ78 Xa8 Xa-8 NST 4 PI231129 Xa10 Xa-10 NST11 Cas 209 Xa11 Xa-11 RP 9-3, IR8 Xa12 Xa-kg NST4 Kogyoku, Java14 Xa12-h Xa-kgh NST 4 IR28, IR29, IR30 Xa13 Xa-13 NST 5 BJ1, Chinsura Boro II Xa14 Xa-14 Tai chung Native 1 Xa15 (t) Xa-nm (t) M41 Xa16 Xa-16 Tẻ tép 19 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc Xa17 Xa-as(t) NST 4 Asominori Xa18 Xa-18 IR24, Milyang 23 Xa19 Xa19 Đột biến XM5 Xa20 Xa-20 Đột biến M6 Xa21 Xa-21 NST 11 IRBB21 Xa22 (t)b Xa-22 (t) NST 11 Zachanglong Xa23 (t)b Xa-23 (t) NST 11 WBB1 Bảng 2. Trình tự các đoạn mồi đặc hiệu để phát hiện gen Xa trên lúa Mồi Trình tự nucleotide Xa-gen MP1 5'-ATC-GAT-CGA-TCT-TCA-CGA-GG-3' Xa-4 MP2 5'-dTG-CTA-TAA-AAG-GCA-TTC-GGG-3' RG 56 F 5'-TAG-CTG-CTG-CCG-TGC-TGT-GC-3' Xa-5 RG556 R 5'-AAT-ATT-TCA-GTG-TGC-ATC-3' P3 F 5'-CAG-CAA-TTC-ACT-GGA-GTA-GTG-GTT-3' Xa-7 P3 R 5'-CAT-CAC-GGT-CAC-CGC-CAT-ATC-GGA-3' Xa21F 5'-ATA-GCA-ACT-GAT-TGC-TTT-GC-3' Xa-21 Xa 21 R 5'- CGA - TCG - GTA - TAA- CAG-CAA-AAC-3' RG136 F 5' - TCC-CAG-AAA-GCT - ACA-GC-3' Xa-13 RG136 R 5' - GCA-GAC-TCC-AGT=TTG-ACT-TC-3' Gen Xa21 lần đầu tiên được phát hiện trong một giống lúa hoang dại Oryza longistaminata và đã được chuyển vào giống lúa IR24 để tạo ra giống lúa kháng 20 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp Ngô Bích Ngọc bệnh IRBB21 [11]. Ở Ấn Độ và Philippin, giống lúa này đã được chứng minh là có khả năng kháng với hầu hết các chủng Xoo. Trong công tác chọn tạo giống, chiến lược chọn tạo giống lúa chống bệnh bạc lá ở Miền Bắc của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội dùng phương pháp thu thập mẫu bệnh, ứng dụng công nghệ sinh học để phân lập, nuôi cấy và phân biệt gen kháng bệnh bằng PCR đã xác định 16 chủng vi khuẩn Xoo gây bệnh khác nhau.
Các dòng chỉ thị IRBB5 (Xa5), IRBB7 (Xa7), IRBB21 (Xa2) có tính kháng đa số các chủng vi khuẩn gây bệnh. Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long dùng phương pháp chỉ thị marker kết hợp với chọn giống truyền thống, thanh lọc và đánh giá kiểu hình, kiểu gen các giống lúa mùa địa phương xác định gen kháng bạc lá Xa5, Xa13 trên nhiểm sắc thể số 5, 8 và việc liên kết các gen mục tiêu làm tăng tính kháng rộng của giống lúa [21]. Phan Thanh Tùng và nhóm tác giả Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, sử dụng 11 mẫu vi khuẩn ở miền Bắc Việt Nam, được phân lập bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo và 9 isolate mới được thu thập vào vụ mùa 2007 ở một số vùng tại miền Bắc Việt Nam (ký hiệu 2, 4, 5.