Nghiên cứu tác dụng nhuận tràng và độc tính thực nghiệm của chế phẩm Tabo

Nghiên cứu khoa học về tác dụng nhuận tràng của chế phẩm Tabo. Phân tích chi tiết hiệu quả điều trị táo bón và đánh giá mức độ độc tính, an toàn.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2021

90
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Chế phẩm Tabo và Tác dụng Nhuận Tràng

Chế phẩm Tabo là một sản phẩm dược học được phát triển dựa trên những nguyên liệu thiên nhiên, đặc biệt là Phan tả diệpThảo quyết minh. Đây là những thành phần có tính chất nhuận tràng được sử dụng trong y học cổ truyền từ lâu đời. Nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đồng Thị Nguyệt Anh tại Đại học Dược Hà Nội năm 2021 đã tập trung vào việc đánh giá tác dụng nhuận tràng và độc tính của chế phẩm này thông qua các mô hình thực nghiệm trên động vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả điều trị táo bón của Tabo, đồng thời kiểm chứng tính an toàn của sản phẩm.

1.1. Thành phần chính của Chế phẩm Tabo

Phan tả diệpThảo quyết minh là hai thành phần cốt lõi của Tabo. Những dược liệu này chứa các hoạt chất có khả năng kích thích nhu động ruột, tăng tiết dịch ruột và giúp nhuận tràng hiệu quả. Trong y học cổ truyền, những cây thuốc này đã được sử dụng để điều trị táo bón và các rối loạn tiêu hóa. Các hoạt chất trong Tabo tác động trực tiếp lên cơ chế vận chuyển chất trong ruột, giúp phân mềm và dễ đi cầu hơn.

1.2. Vai trò điều trị táo bón của Tabo

Táo bón là một bệnh lý phổ biến ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân. Chế phẩm Tabo hoạt động bằng cách kích thích nhu động ruộttăng hàm lượng nước trong phân. Điều này giúp phân dễ di chuyển qua đường ruột, giảm cảm giác khó chịu và hỗ trợ điều trị táo bón hiệu quả. Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng Tabo có tác dụng vượt trội trong việc cải thiện tỉ lệ di chuyển than hoạt trong đường tiêu hóa.

II. Các Mô Hình Đánh giá Tác dụng Nhuận Tràng

Để đánh giá tác dụng nhuận tràng của chế phẩm Tabo, nghiên cứu đã sử dụng nhiều mô hình thí nghiệm khác nhau trên động vật. Mô hình chính là gây táo bón bằng loperamid, một chất gây kìm hãm nhu động ruột. Bằng cách sử dụng hai liều khác nhau (5mg/kg và 10mg/kg), nhóm nghiên cứu đã tạo ra mức độ táo bón khác nhau để đánh giá mức độ hiệu quả điều trị của Tabo. Kết quả cho thấy chế phẩm Tabo đã cải thiện đáng kể tình trạng của các nhóm động vật, đặc biệt là ở liều cao hơn.

2.1. Mô hình gây táo bón bằng loperamid

Loperamid là một chất kìm hãm nhu động ruột, được sử dụng rộng rãi để tạo mô hình táo bón trong nghiên cứu. Khi sử dụng loperamid ở liều 5mg/kg và 10mg/kg, các động vật thí nghiệm cho thấy giảm tỉ lệ di chuyển chất trong ruộtgiảm số lần đi cầu. Đây là mô hình lý tưởng để kiểm tra tác dụng nhuận tràng của các chế phẩm, vì nó mô phỏng táo bón vận chuyển chậm thường gặp ở con người.

2.2. Đánh giá tỉ lệ di chuyển than hoạt GIT

Than hoạt được sử dụng như một chỉ số để đánh giá tỉ lệ di chuyển chất trong đường tiêu hóa (GIT). Sau khi cho động vật uống chế phẩm Tabo, nhóm nghiên cứu theo dõi sự di chuyển than hoạthàm lượng nước trong phân. Kết quả cho thấy Tabo tăng đáng kể tỉ lệ GIT so với nhóm kiểm soát, chứng minh tác dụng nhuận tràng mạnh của sản phẩm.

III. Đánh giá Độc tính của Chế phẩm Tabo

Ngoài tác dụng nhuận tràng, đánh giá độc tính là một phần quan trọng trong nghiên cứu an toàn của chế phẩm. Các nhà khoa học đã thực hiện hai loại đánh giá độc tính: độc tính cấpđộc tính bán trường diễn. Trong độc tính cấp, động vật thí nghiệm được cho uống liều cao của Tabo và theo dõi các triệu chứng độc hại, hành vi bất thường, và thay đổi về cân nặng trong 14 ngày. Kết quả cho thấy Tabo không gây độc tính cấp ở các liều được kiểm tra.

3.1. Đánh giá Độc tính Cấp

Độc tính cấp được đánh giá bằng cách cho động vật uống liều cao nhất của chế phẩm Tabo trong một lần và theo dõi các triệu chứng độc hại. Các chỉ tiêu quan sát bao gồm hành vi hoạt động, sự thay đổi về cân nặng, tiêu hóa, và bài tiết. Kết quả không ghi nhận bất kỳ triệu chứng độc tính hay tử vong ở bất kỳ nhóm động vật nào, chứng minh Tabo an toàn khi sử dụng đúng liều lượng.

3.2. Đánh giá Độc tính Bán Trường Diễn

Độc tính bán trường diễn được kiểm tra bằng cách cho động vật uống chế phẩm Tabo hàng ngày trong 28 ngày liên tục. Các chỉ số sinh hóa máu như ALT, AST, số lượng bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu được kiểm tra định kỳ. Ngoài ra, cân nặng cơ thểtiêu hóa được theo dõi suốt thời gian thực nghiệm. Kết quả cho thấy không có sự thay đổi đáng kể các chỉ số này, chứng minh Tabo an toàn khi sử dụng dài hạn.

IV. Kết Luận và Triển Vọng Ứng Dụng Chế phẩm Tabo

Nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp tại Đại học Dược Hà Nộ đã chứng minh rằng chế phẩm Tabotác dụng nhuận tràng mạnhđộc tính thấp. Sản phẩm có khả năng cải thiện tình trạng táo bón hiệu quả thông qua kích thích nhu động ruộttăng hàm lượng nước trong phân. Kết quả độc tính cấp và bán trường diễn đều cho thấy Tabo không gây hại khi sử dụng. Những phát hiện này mở ra triển vọng ứng dụng lâm sàng của Tabo trong điều trị táo bón, đặc biệt là táo bón dựa trên y học cổ truyền kết hợp với phương pháp y học hiện đại.

4.1. Tóm tắt Kết quả Chính

Chế phẩm Tabo đã chứng minh tác dụng nhuận tràng qua việc tăng tỉ lệ di chuyển than hoạtcải thiện phân ướt ở các mô hình táo bón gây bởi loperamid. Độc tính cấp không được ghi nhận ở bất kỳ liều nào, và độc tính bán trường diễn cũng không gây tổn thương các cơ quan quan trọng. Những kết quả này cho phép khẳng định Tabo là một chế phẩm an toàn và hiệu quả.

4.2. Kiến nghị và Hướng Phát triển

Dựa trên kết quả nghiên cứu, có thể khuyến cáo Tabo như một lựa chọn điều trị cho táo bón với rủi ro độc tính thấp. Các nghiên cứu tiếp theo nên tiến hành thử nghiệm lâm sàng trên con người để xác nhận hiệu quảđánh giá liều lượng tối ưu. Tabo có thể trở thành một sản phẩm dược phẩm quan trọng trong điều trị các rối loạn tiêu hóa dựa trên nguyên liệu thiên nhiên.

22/12/2025
Đồng thị nguyệt anh đánh giá tác dụng nhuận tràng và độc tính trên thực nghiệm của chế phẩm tabo khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về táo bón 1. Định nghĩa Táo bón là một hội chứng, không phải một bệnh. Táo bón được định nghĩa là rối loạn cảm giác đại tiện: phân trở nên rắn, mỗi lần đại tiện cần có sự trợ giúp, số lần đại tiện < 3 lần/tuần [9].

Dịch tễ học táo bón Theo một tổng quan tài liệu MEDLINE về dịch tễ học của táo bón ở trẻ em và người lớn được xác định trên 58 bài báo năm 2010, tỉ lệ táo bón của dân số chung trên thế giới rất khác nhau, dao động từ 2,5% đến 79% ở người lớn và từ 0,7% đến 29,6% ở trẻ em [38], [74]. Nhìn chung các quốc gia ở châu Á có tỉ lệ mắc thấp hơn (10,8%) so với lại Bắc Mĩ (16%), châu Âu (19,2%) và châu Đại Dương (19,7%). Sự khác nhau này có thể do những khác biệt về văn hóa, chế độ ăn uống, di truyền, môi trường, kinh tế xã hội và các hệ thống chăm sóc sức khỏe. Táo bón gặp nhiều ở nữ giới hơn nam giới (tỉ lệ trung bình giữa nữ và nam là 1,5:1).

Kết quả phân tích cho thấy có sự gia tăng tỉ lệ táo bón ở những người cao tuổi, đó có thể do các nguyên nhân thứ phát bao gồm bệnh tật, sử dụng nhiều thuốc và có khả năng tăng lên theo tuổi. Tỉ lệ táo bón cao hơn ở những nhóm người có trình độ giáo dục, văn hóa và kinh tế - xã hội thấp hơn [65]. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ táo bón ở những người da màu cao hơn người da trắng [28], [78], [79], tuy nhiên ảnh hưởng của chủng tộc đến nguy cơ mắc táo bón vẫn chưa thật sự rõ ràng [65]. Theo một bài tổng quan khác về tỉ lệ hiện mắc, yếu tố nguy cơ của táo bón mạn tính vô căn trong cộng đồng năm 2011, tỉ lệ mắc táo bón mạn tính vô căn trung bình là 14%, tỉ lệ này thấp nhất ở khu vực Đông Nam Á (11%).

Tỷ lệ mắc táo bón mạn tính vô căn cao hơn ở phụ nữ (1,87-2,62 lần so với nam giới), tăng theo độ tuổi và tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn [89]. Nhìn chung về tình hình dịch tễ táo bón trên thế giới: tỉ lệ mắc khác nhau giữa các quốc gia và khu vực, tỉ lệ này thay đổi theo giới tính, độ tuổi, trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục và có thể thay đổi theo chủng tộc. 3 Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến dịch tễ học táo bón còn hạn chế, quy mô nhỏ, không cung cấp được một cái nhìn đầy đủ về tình hình táo bón tại nước ta. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng Để chẩn đoán nguyên nhân táo bón cần dựa trên tập hợp 3 nhóm thông tin: bệnh sử, khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng [9].

Bệnh sử: Cần kiểm tra kĩ các bệnh lý thần kinh đặc biệt là các tổn thương rễ thần kinh vì ở những trường hợp này, triệu chứng táo bón rất nặng và khó chữa, thường không thành công. Kiểm tra các rối loạn tâm thần có thể là nguyên nhân dẫn tới táo bón, trong trường hợp cần thiết có thể phải kết hợp với các chuyên gia tâm lý. Thời gian bị bệnh cần phải được khai thác kĩ, táo bón mới mắc có thể là nguyên nhân tắc nghẽn, nếu còn cảm giác đại tiện có thể tắc nghẽn đường ra, nếu không có cảm giác đại tiện có thể nguyên nhân đại tràng mất nhu động. Khai thác kĩ tiền sử gia đình, tìm hiểu các bệnh lý có liên quan với dấu hiệu táo bón, khai thác các tiền sử có bệnh lý thực thể ống tiêu hóa như ung thư.

Khám lâm sàng: thường không phát hiện được triệu chứng gì đặc biệt, khám lâm sàng hầu hết là bình thường. Trong một số trường hợp có thể gặp tình trạng bụng trướng hơi, sờ thấy khối phân rắn ở hố chậu trái hoặc có thể gặp tình trạng phân rắn, có thể có máu, trương lực cơ thắt thay đổi, trĩ, rách hậu môn, rò, sa trực tràng qua thăm khám trực tràng. Xét nghiệm cận lâm sàng:  Chụp khung đại tràng và nội soi đại tràng loại trừ tắc nghẽn.  Test đánh giá chức năng đại tràng: do vận động trực tràng.

Điện cơ, đo tốc độ vận chuyển phân. Sinh thiết niêm mạc trực tràng.  Thời gian nhu động đại tràng: chất đánh dấu.  Chụp trực tràng khi rặn: góc ống hậu môn và bóng trực tràng < 90o, người bình thường góc ống hậu môn và bóng trực tràng vuông góc.

 Chụp CT tiểu khung. Chụp MRI tiểu khung loại trừ nguyên nhân táo bón do u, lồng ruột, tắc ruột. Chẩn đoán xác định Theo tiêu chuẩn Rome III, táo bón được chẩn đoán khi bệnh nhân có ít nhất 2 trong các triệu chứng sau và kéo dài ≥ 3 tháng, khởi phát ≥ 6 tháng [17]:  Đại tiện < 3 lần mỗi tuần.  Phải rặn nhiều.

 Phân khô cứng.  Cảm giác đại tiện không hết.  Đôi khi phải dùng tay móc phân ra. Chẩn đoán nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân gây táo bón.

Một số bệnh nhân không xác định được nguyên nhân rõ ràng, thường được chẩn đoán là hội chứng ruột kích thích hay táo bón mạn tính không rõ nguyên nhân. Có thể chia nguyên nhân gây táo bón thành các nhóm: yếu tố tâm lí, yếu tố thuộc về dinh dưỡng, tác dụng phụ của thuốc, chậm nhu động, hội chứng ruột kích thích, hội chứng Ogilvy, nguyên nhân thần kinh, rối loạn vận động sàn chậu và rối loạn chuyển hóa. Các yếu tố trên có thể là nguyên nhân nhưng cũng có thể là hậu quả của táo bón. Những nguyên nhân hay gặp nhất là: táo bón do chậm nhu động, hội chứng ruột kích thích, tắc đường ra.

Nguyên nhân và dấu hiệu táo bón khác nhau giữa các đối tượng, đặc biệt là người già và trẻ em. Người già: táo bón là một dấu hiệu chứng tỏ sự lão hóa. Yếu tố làm xuất hiện táo bón là: không vận động, tổn thương thần kinh, tâm thần, lạm dụng thuốc, dinh dưỡng. Trẻ em: hầu hết táo bón có tính chất chức năng chứ không phải là tổn thương thực thể.

Bệnh Hirschsprung - một bệnh thường gặp ở trẻ em, là dị tật bẩm sinh xảy ra do sự suy giảm phân bố các hạch thần kinh ở phần thấp đường tiêu hóa, thường giới hạn ở đại tràng, dẫn đến tắc nghẽn chức năng một phần hoặc toàn bộ với các triệu chứng là táo bón và 5 chướng bụng. Táo bón ở trẻ em có thể kết hợp với các nguyên nhân đặc biệt như tập đi vệ sinh cưỡng bức, bố mẹ can thiệp quá nhiều và chứng sợ toilet [9]. Điều trị Điều trị táo bón là điều trị triệu chứng. Trường hợp tìm được nguyên nhân phải giải quyết nguyên nhân táo bón (khối u, sa trực tràng, suy giáp, tăng calci máu.

Hạn chế dùng thuốc nhuận tràng kéo dài mà nên dùng ngắt quãng. Đôi khi cần phải điều trị kéo dài do vậy mục tiêu đầu tiên trong điều trị là thay đổi cách sống lâu dài mới có thể giúp thay đổi cấu trúc phân và số lần đại tiện. Các biện pháp không dùng thuốc Bệnh nhân cần duy trì lối sống lành mạnh: chế độ ăn nhiều chất xơ, nhiều hoa quả, uống nhiều nước; thay đổi thói quen sinh hoạt, đi đại tiện đúng giờ; tập thể dục điều độ, tăng cường vận động thể chất [9], [56]. Các nhóm thuốc điều trị táo bón Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc điều trị táo bón, tuy nhiên, có thể phân loại các thuốc nhuận tràng vào 5 nhóm chính: nhuận tràng tăng tạo khối lượng phân, nhóm bôi trơn, nhuận tràng kích thích, nhuận tràng thẩm thấu, các thuốc nhuận tràng dùng đường đặt trực tràng.

Nhuận tràng tăng tạo khối lượng phân: Psyllium, Polycarbophil, Methylcellulose. Bản chất các thuốc này là các polysaccharid hữu cơ làm tăng khối lượng phân nhờ tác dụng giữ nước. Chỉ dùng các thuốc này khi không thể tăng khẩu phần chất xơ trong bữa ăn. Thuốc có thể gây đầy hơi và chướng bụng nhưng khá an toàn khi dùng lâu dài.

Khi sử dụng các thuốc thuộc nhóm này cần chú ý cung cấp đủ nước, nếu không cung cấp đủ nước có thể dẫn đến đầy hơi, tắc ruột. Nhóm bôi trơn: dầu parafin, glycerin. Các thuốc nhóm này giúp hỗ trợ quá trình di chuyển của phân. Nhuận tràng kích thích: senna, natri bicosulfat, bisacodyl, anthraquinon.

Tác dụng bằng cách kích thích trực tiếp vào hệ thống thần kinh đại tràng, làm tăng tiết và tăng nhu 6 động ruột. Tác dụng thường xảy ra trong vòng 8 - 12 giờ, viên đặt tác dụng nhanh hơn 20 - 60 phút. Không nên dùng kéo dài nhóm thuốc này vì có nguy cơ ung thư. Nhuận tràng thẩm thấu: chứa các chất kém hấp thu đóng vai trò là chất thẩm thấu để hút nước vào trong lòng ruột.

Một số thuốc thường được sử dụng trong nhóm: muối magie và phosphat 5 – 10 g/ngày tác dụng nhanh có nguy cơ tiêu chảy, đường lactulose 20 – 40 g/ngày, sorbitol 10 – 20 g/ngày, polyethylene glycol. Các thuốc nhuận tràng dùng đường trực tràng: glycerin đặt hậu môn. có tác dụng kích thích trực tiếp tại vị trí đặt. Khi sử dụng các thuốc nhuận tràng để điều trị táo bón cần lưu ý một số đặc điểm sau: nên sử dụng các thuốc nhuận tràng ngắt quãng, không nên dùng kéo dài; khi sử dụng nhóm thuốc nhuận tràng kích thích nên hạn chế vì nguy cơ gây bệnh đại tràng đen; nên dùng luân phiên các thuốc nhuận tràng [9], [56].

Tổng quan về điều trị táo bón theo y học cổ truyền Táo bón là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây ra. Có 2 loại là táo bón nhất thời và táo bón kéo dài. Chứng táo bón nhất thời do một số bệnh cấp tính (như bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm), do thay đổi sinh hoạt, do ăn uống (thiếu rau) gây ra. Nguyên nhân chứng táo bón kéo dài thường do địa tạng (bẩm tố) âm hư, huyết nhiệt hoặc do thiếu máu làm tân dịch giảm gây ra; hoặc do người già, phụ nữ sau khi đẻ nhiều lần cơ nhục bị yếu gây khí trệ khó bài tiết phân ra ngoài; hoặc do người vốn dương hư không vận hành được khí gây tân dịch không lưu thông; hoặc do bị kiết lỵ mạn tính làm tì vị kém vận hóa táo bón [10].

Trong y học cổ truyền, các vị thuốc thuộc nhóm tả hạ được sử dụng để điều trị táo bón. Thuốc tả hạ còn gọi là thuốc xổ, là những thuốc có tác dụng thông lợi đại tiện. Thuốc có khả năng làm tăng nhu động vị tràng, đặc biệt đại tràng mà gây ra đại tiện lỏng; mặt khác do bản chất giữ nước của thuốc mà gây ra hoạt tràng. Thường được dùng trong các trường hợp đại tiện bí, táo kết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ