CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ VÀ CHỒNG 1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa chế độ tài sản của vợ và chồng 1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ và chồng Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt.
Để xây dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bền vững. Ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là cơ sở kinh tế để hôn nhân bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng, cơ bản nhất của pháp luật HN&GĐ. Vợ, chồng trước hết với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Tài sản của vợ, chồng thuộc phạm trù tài sản riêng của công dân đã được Hiến pháp năm 2013 (Điều 32) và BLDS năm 2015 ghi nhận. Tài sản theo nghĩa từ điển Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng”, còn theo quy định tại Điều 205 BLDS năm 2015 thì tài sản “là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Xét về lý thuyết, có thể áp dụng các quy định chi phối tài sản của vợ chồng như những người khác không phải là vợ chồng của nhau. Ví dụ, tài sản của bên nào, bên đó có quyền sử dụng, quản lý, định đoạt. Những thu nhập hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng… Tuy nhiên, lý thuyết này không thể áp dụng cho hai vợ chồng trong thực tiễn. Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập, sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc vì sự ổn định và phồn vinh của xã hội.
Do tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân cần phải có một quy chế pháp lý đặc biệt nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng, theo 4 đó, vợ chồng có quyền sử dụng các tài sản chung, tài sản riêng vừa đảm bảo hài hoà quyền và lợi ích của mỗi bên, lợi ích của các thành viên trong gia đình cũng như lợi ích của người thứ ba có liên quan, tạo lập sự ổn định trong xã hội. Có thể hiểu: chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thoả thuận của vợ và chồng về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng bao gồm các căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng. Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được nhà làm luật dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan; phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa để Nhà nước quy định trong pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. Pháp luật ở mỗi quốc gia đều có quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, tuy nhiên mỗi quốc gia có thể có quy định khác nhau.
Ngay trong một quốc gia, theo từng giai đoạn phát triển của đất nước, chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật quy định cũng có thể là khác nhau. Ví dụ, theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta, từ năm 1945 đến trước ngày 01/01/2015 (ngày Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực pháp luật) đã không ghi nhận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định) chỉ quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định (chế độ tài sản pháp định). Đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì Luật HN&GĐ năm 1959 đã lựa chọn chế độ cộng đồng toàn sản (quy định chỉ có tài sản chung giữa vợ chồng); còn Luật HN&GĐ năm 1986 và năm 2000 lại quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là chế độ cộng đồng tạo sản (giữa vợ chồng vừa có tài sản chung, đồng thời ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng). Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2014 đã dự liệu có hai loại chế độ tài sản của vợ chồng: Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, nhà làm luật vẫn lựa chọn chế độ cộng đồng tạo sản.
Đặc điểm chế độ tài sản của vợ và chồng 5 Thứ nhất, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp là vợ chồng của nhau, có đủ năng lực chủ thể trong pháp luật dân sự và tuân thủ các điều kiện kết hôn trong pháp luật HN&GĐ. Thứ hai, chế độ tài sản của vợ chồng gắn liền với quan hệ hôn nhân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Chế độ tài sản của vợ chồng tồn tại như một tất yếu khách quan của quan hệ hôn nhân. Trong đó, quy định căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào điều kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân.
Tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nguồn bảo đảm đối với cuộc sống vật chất và tinh thần của gia đình. Xuất phát từ quan hệ hôn nhân, chế độ tài sản của vợ chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của hôn nhân và chấm dứt khi vợ hoặc chồng chết trước hoặc có một bản án, quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn. Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng được xây dựng nhằm mục đích trước tiên và chủ yếu là bảo đảm quyền lợi của gia đình, là cơ sở để vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản. Đồng thời, các chủ thể liên quan đến tài sản của vợ chồng phải nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các quy định pháp luật về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền sở hữu và giao dịch giữa vợ, chồng và giữa họ với các chủ thể khác (người thứ ba), qua đó góp phần bảo đảm quyền lợi của gia đình trong đó có lợi ích của cá nhân vợ, chồng và người thứ ba có liên quan đến tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản nào cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc, tài sản nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể có nhiều phát sinh các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của vợ chồng. Do đó, cần phải xác định được trong các giao dịch về tài sản của vợ chồng, trường hợp nào được coi là có sự thỏa thuận mặc nhiên của cả hai vợ chồng khi chỉ một bên vợ, chồng sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng ký kết hợp đồng với người khác.
Việc thỏa thuận mặc nhiên như: vợ, chồng sử dụng tài sản, tiền bạc nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình như: ăn, ở, học 6 hành, chữa bệnh,…Việc xác định này nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của vợ, chồng liên quan đến tài sản của mình và quyền lợi của người thứ ba tham gia các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Thứ năm, các văn bản quy phạm pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Tòa án sẽ giải quyết phân chia tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi có yêu cầu và bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng và người khác có liên quan đến tài sản của vợ chồng.3 Vai trò chế độ tài sản của vợ và chồng Xuất phát từ vị trí quan trọng của gia đình đối với xã hội, gia đình là nền tảng cơ bản, thể hiện tính chất và kết cấu xã hội. Hôn nhân lại là cơ sở để tạo lập gia đình - tế bào của xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, trong đó có quan hệ vợ chồng. Trong mỗi chế độ xã hội cụ thể đều xây dựng một mô hình gia đình phù hợp với tính chất, kết cấu của chế độ xã hội đó. Lịch sử xã hội đã ghi nhận nhiều hình thái gia đình tương ướng với chế độ chủ nô, phong kiến, tư sản và gia đình XHCN với những đặc điểm và nội dung khác nhau, do các điều kiện kinh tế - xã hội chi phối. Trong quan hệ gia đình (dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng), quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng.
Quan hệ hôn nhân thường có tính chất bền vững “trăm năm”, vợ chồng chung sống với nhau suốt đời, sinh đẻ, giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng các con vì quyền lợi của gia đình và lợi ích của xã hội. Bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thương gắn bó giữa vợ chồng, không thể không quan tâm tới đời sống vật chất, tiền bạc, tài sản của vợ chồng. Cuộc sống chung của vợ chồng, tính chất của mối quan hệ vợ chồng được xác lập đòi hỏi phải có khối tài sản chung của vợ chồng; bởi tài sản là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, bảo đảm cho gia đình thực hiện được các chức năng xã hội của nó.