Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong đời sống xã hội, sau khi xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp, bên cạnh mối quan hệ tình cảm gắn bó, vợ và chồng luôn phát sinh các quan hệ tài sản nhằm duy trì nhu cầu sinh hoạt, tồn tại và phát triển của gia đình. Chế độ tài sản của vợ chồng là chế định trung tâm trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình, đóng vai trò xác lập căn cứ tạo lập khối tài sản, phân định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản chung, tài sản riêng, cũng như bảo đảm trật tự trong các giao dịch dân sự với người thứ ba.
Tại Việt Nam, pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng đã liên tục được sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ lịch sử để phù hợp với sự vận động của kinh tế - xã hội. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành với nhiều sửa đổi tiến bộ, lần đầu tiên thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận bên cạnh chế độ tài sản theo luật định. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, việc áp dụng các quy định về xác định ranh giới tài sản chung - tài sản riêng, trách nhiệm liên đới, phân chia tài sản và bảo vệ người thứ ba ngay tình vẫn phát sinh nhiều vướng mắc trên thực tế.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam.
- Phân tích chuyên sâu các quy định cụ thể về chế độ tài sản pháp định theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng và xét xử nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung chính:
- Trình bày những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ và chồng.
- Làm rõ nội dung chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề tài không nghiên cứu sâu về quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản giữa vợ và chồng. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và tập trung trọng tâm vào chế độ tài sản theo luật định (chế độ tài sản pháp định) theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Địa điểm thực tập và thu thập tư liệu thực tế của tác giả là tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng (Hải Phòng).
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở pháp lý và tài liệu nghiên cứu của khóa luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam:
- Các bộ cổ luật: Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn).
- Các bộ luật thời kỳ Pháp thuộc: Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883.
- Các văn bản pháp luật tại miền Nam giai đoạn 1954–1975: Luật Gia đình 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ luật Dân sự 1972.
- Hệ thống pháp luật nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Sắc lệnh số 47-SL (1945), Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL (1950); Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000, 2014; Bộ luật Dân sự các năm 2005, 2015; Hiến pháp các năm 1946, 1980, 2013; Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Luật Đất đai 2013 và các văn bản chuyên ngành liên quan.
Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận các mô hình chế độ tài sản vợ chồng phổ biến trên thế giới:
- Chế độ tài sản ước định (theo thỏa thuận thông qua hôn ước).
- Chế độ tài sản pháp định (theo luật định), bao gồm hai nhóm quan niệm: tiêu chuẩn cộng đồng (cộng đồng toàn sản, cộng đồng động sản và tạo sản, cộng đồng tạo sản) và tiêu chuẩn phân sản (không tồn tại khối tài sản chung).
Khóa luận vận dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nhằm làm sáng tỏ sự hình thành, biến đổi của các quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình gắn liền với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội qua từng giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp phân tích quy phạm và giải thích pháp luật: Mổ xẻ các điều luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu sự khác biệt giữa các đạo luật năm 1959, 1986, 2000 và 2014; so sánh quy định pháp luật giữa các thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc và chế độ cũ ở miền Nam.
- Phương pháp thu thập tài liệu, thống kê, đánh giá và tổng hợp: Phục vụ cho việc nhận định thực tiễn áp dụng và xây dựng các luận cứ đề xuất kiến nghị.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ và chồng
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng, phân loại các mô hình tài sản và phân tích tiến trình lập pháp trong lịch sử Việt Nam.
Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng được xác định là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thỏa thuận giữa vợ và chồng điều chỉnh quan hệ tài sản, bao gồm căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng; quyền và nghĩa vụ đối với từng loại tài sản; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản. Chế độ tài sản mang 5 đặc điểm bản chất:
- Chủ thể phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Gắn liền với sự tồn tại của quan hệ hôn nhân, chấm dứt khi vợ/chồng chết hoặc có phán quyết ly hôn có hiệu lực.
- Xây dựng nhằm bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của gia đình và quyền lợi của các thành viên.
- Là cơ sở pháp lý điều chỉnh giao dịch giữa vợ chồng và giữa vợ chồng với người thứ ba.
- Là căn cứ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản.
Chế độ tài sản giữ vai trò điều tiết hành vi của vợ chồng theo khuôn khổ pháp luật, bảo đảm cơ sở kinh tế để thực hiện quyền nhân thân trong gia đình xã hội chủ nghĩa, đồng thời duy trì sự an toàn và ổn định cho các giao dịch kinh tế - dân sự.
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản điều chỉnh tiêu biểu |
Mô hình chế độ tài sản áp dụng |
Đặc điểm cốt lõi về quyền và tài sản |
| Phong kiến |
Quốc triều hình luật (niên hiệu Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (1815) |
Cộng đồng toàn sản pháp định |
Tài sản gồm: phu tông điền sản, thê điền sản, tần tảo điền sản. Đặt dưới quyền quản trị của người chồng; người vợ có quyền thỏa thuận trong giao dịch điền sản quan trọng (văn tự phải có chữ ký hai người). |
| Pháp thuộc (1858–1945) |
Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 |
Cộng đồng toàn sản (áp dụng khi không lập hôn khế) |
Hợp nhất tài sản; người chồng giữ quyền quản trị tối cao, người vợ bị hạn chế năng lực hành vi (cần sự cho phép của chồng khi giao dịch lớn); phân chia tài sản riêng khi ly hôn không có con chung. |
| Miền Nam (1954–1975) |
Luật Gia đình 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ luật Dân sự 1972 |
Cộng đồng toàn sản (Luật 1959); Cộng đồng động sản và tạo sản (Sắc luật 15/64, BLDS 1972) |
Thừa nhận lập hôn ước tiền hôn nhân; bảo lưu quyền gia trưởng của người chồng trong việc quản trị tài sản chung và tài sản riêng của vợ. |
| Giai đoạn 1945–1959 |
Sắc lệnh số 47-SL (1945), Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL (1950) |
Bước đầu xác lập quyền bình đẳng |
Cụ thể hóa Hiến pháp 1946: công nhận phụ nữ có toàn năng lực về mặt hộ; vợ chồng bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. |
| Luật HN&GĐ 1959 |
Đạo luật số 13 về Hôn nhân và Gia đình |
Cộng đồng toàn sản pháp định |
Toàn bộ tài sản trước và sau khi cưới hợp nhất thành tài sản chung; không thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 15). |
| Luật HN&GĐ 1986 |
Luật HN&GĐ 1986, Nghị quyết 01-NQ/HĐTP (1988) |
Cộng đồng tạo sản pháp định |
Chuyển sang cộng đồng tạo sản: phân định tài sản chung và tài sản riêng; bổ sung quy định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi có lý do chính đáng. |
| Luật HN&GĐ 2000 |
Luật HN&GĐ năm 2000 |
Kế thừa cộng đồng tạo sản |
Bổ sung nguyên tắc suy đoán tài sản chung (Điều 27); quy định trách nhiệm liên đới đối với giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu; cấm chia tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ. |
Chương 2: Nội dung chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014
Chương 2 phân tích cấu trúc quy phạm của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đối với chế độ tài sản pháp định.
1. Những quy định chung (Điều 28 đến Điều 32):
- Lựa chọn chế độ tài sản (Điều 28): Luật cho phép vợ chồng chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận (xác lập trước khi kết hôn bằng văn bản công chứng/chứng thực) hoặc chế độ tài sản theo luật định. Chế độ pháp định được áp dụng mặc nhiên khi các bên không lập thỏa thuận hoặc thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu (theo Điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).
- Nguyên tắc chung (Điều 29): Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ tạo lập, định đoạt tài sản; công nhận lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; có trách nhiệm bồi thường khi xâm phạm quyền lợi của nhau hoặc của người khác.
- Giao dịch thiết yếu và nơi ở duy nhất (Điều 30, 31): Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu; nếu tài sản chung không đủ thì phải đóng góp tài sản riêng theo khả năng. Mọi giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất phải có sự thỏa thuận của cả hai bên, kể cả khi nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên nhưng vẫn phải bảo đảm chỗ ở cho gia đình.
- Bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 32): Người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hoặc đang chiếm hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu được suy đoán là người có quyền xác lập giao dịch với người thứ ba ngay tình.
2. Khối tài sản chung của vợ chồng (Điều 33):
Căn cứ xác lập tài sản chung gồm:
- Tài sản tạo ra từ thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân.
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân (Điều 109 BLDS 2015).
- Các khoản thu nhập hợp pháp khác (tiền thưởng, trợ cấp, trúng thưởng xổ số, tài sản xác lập quyền sở hữu theo Điều 228 đến Điều 233 BLDS 2015).
- Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc tài sản riêng mà hai bên thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (giao đất, thuê đất, nhận chuyển nhượng bằng tài sản chung), trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng.
- Áp dụng nguyên tắc suy đoán: Mọi tài sản đang tranh chấp mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì được xác định là tài sản chung.
3. Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung (Điều 34, 35, 37):
- Định đoạt tài sản chung (Điều 35): Phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả vợ và chồng đối với 3 loại tài sản: Bất động sản; Động sản phải đăng ký quyền sở hữu; Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Giao dịch vi phạm điều kiện này có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo yêu cầu của bên kia.
- Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (Điều 34): Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp giấy tờ chỉ đứng tên một người, vợ/chồng có quyền yêu cầu cấp đổi (khoản 2 Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).
- Nghĩa vụ chung về tài sản (Điều 37): Gồm 6 nhóm nghĩa vụ: (1) Giao dịch do hai bên cùng xác lập hoặc bồi thường thiệt hại cùng chịu trách nhiệm; (2) Giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu; (3) Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; (4) Sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển tài sản chung hoặc nguồn thu nhập chính; (5) Bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên/mất năng lực hành vi gây ra; (6) Các nghĩa vụ khác theo luật định.
4. Phân chia tài sản chung của vợ chồng:
Luật dự liệu 3 trường hợp chia tài sản: trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38), khi ly hôn (Điều 59) và khi một bên chết. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị cấm nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 42:
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền lợi của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động.
- Nhằm trốn tránh các nghĩa vụ tài sản: nuôi dưỡng, cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại; thanh toán khi phá sản; trả nợ; nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng - Một số kiến nghị đề xuất
Chương 3 tổng kết các vấn đề thực tiễn thu thập được qua quá trình khảo sát tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng và thực tiễn xét xử tại Tòa án:
- Thực trạng áp dụng: Việc phân định tài sản chung - tài sản riêng còn gặp nhiều trở ngại do phong tục người dân ít khi lập văn bản thỏa thuận rành mạch nguồn gốc tiền mua tài sản; tranh chấp quyền sử dụng đất khi giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình hoặc chỉ đứng tên một bên vợ/chồng; khó khăn trong việc xác định công sức đóng góp của người làm công việc nội trợ khi phân chia tài sản bằng hiện vật; việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ khi vợ chồng lợi dụng thủ tục chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để tẩu tán tài sản.
- Kiến nghị hoàn thiện:
- Hoàn thiện cơ chế đăng ký bắt buộc tên của cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với các tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
- Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết tiêu chí định lượng "công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung" để Tòa án các cấp áp dụng thống nhất.
- Xây dựng quy chế kiểm soát chặt chẽ tính hợp pháp của các thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, tăng cường cơ chế công khai nhằm ngăn ngừa hành vi trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với bên thứ ba.
- Đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền quy định về chế độ tài sản theo thỏa thuận (tiền hôn nhân) để nâng cao nhận thức pháp lý của người dân.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử: Khóa luận đã phân tích mạch lạc sự chuyển biến của chế độ tài sản vợ chồng qua các thời kỳ: từ chế độ cộng đồng toàn sản phong kiến trong Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ; các sắc thái luật học thời Pháp thuộc; các quy chế pháp lý tại miền Nam giai đoạn 1954–1975; đến quá trình lập pháp của Nhà nước Việt Nam từ Sắc lệnh 97/SL, 159/SL (1950), Luật 1959 (cộng đồng toàn sản), Luật 1986, 2000 và 2014 (cộng đồng tạo sản kết hợp chế độ ước định).
- Làm rõ các điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Khẳng định giá trị pháp lý tương đương của lao động nội trợ trong gia đình đối với lao động tạo ra thu nhập (khoản 1 Điều 29).
- Phân tích cơ chế bảo vệ giao dịch với người thứ ba ngay tình đối với tài khoản ngân hàng, chứng khoán và động sản không đăng ký (Điều 32).
- Làm rõ 3 trường hợp bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận khi định đoạt tài sản chung (Điều 35) và các trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản bị vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ (Điều 42).
- Đóng góp giải pháp từ thực tiễn: Dựa trên tư liệu tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng, khóa luận chỉ rõ các kẽ hở trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một người và đề xuất các biện pháp hoàn thiện quy định về nghĩa vụ chứng minh tài sản riêng, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu được xác định ở phần Mở đầu, khóa luận chỉ tập trung phân tích chế độ tài sản pháp định (theo luật định) và không đi sâu vào chế độ tài sản theo thỏa thuận (ước định) theo các Điều 47, 48, 49, 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề tài cũng chủ động loại trừ việc nghiên cứu quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản giữa vợ và chồng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận (hợp đồng tiền hôn nhân) tại Việt Nam; phân tích sâu các tranh chấp về chia tài sản là phần vốn góp trong doanh nghiệp, cổ phần, chứng khoán và quyền tài sản hình thành trong tương lai.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự khi nghiên cứu môn học Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Phần nội dung có giá trị cao:
- Phần phân tích lịch sử cổ luật và so sánh các văn bản pháp luật qua các thời kỳ (Chương 1) cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của chế định tài sản vợ chồng tại Việt Nam.
- Phần luận giải các quy định về căn cứ xác lập tài sản chung, nguyên tắc suy đoán và điều kiện vô hiệu của việc phân chia tài sản (Chương 2) là tư liệu hữu ích cho việc giải quyết các bài tập tình huống, phục vụ công tác nghiên cứu học thuật và thực tập tại các tổ chức hành nghề luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, lao động nội trợ trong gia đình có được xem là căn cứ để hưởng quyền tài sản chung ngang bằng với người đi làm có thu nhập không?
Có. Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Người thực hiện công việc nội trợ, chăm sóc gia đình vẫn có quyền yêu cầu phân chia tài sản tương đương công sức đóng góp.
2. Những trường hợp nào bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận của cả hai vợ chồng khi định đoạt tài sản chung?
Theo khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong 3 trường hợp:
- Bất động sản;
- Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
- Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
3. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên người chồng hoặc người vợ thì tài sản đó được xác định như thế nào khi có tranh chấp?
Theo Điều 33, Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP, việc giấy chứng nhận chỉ đứng tên một người không làm mất đi tính chất tài sản chung nếu tài sản đó được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Khi có tranh chấp, người đứng tên phải có nghĩa vụ chứng minh đó là tài sản riêng (được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc mua bằng tài sản riêng). Nếu không chứng minh được thì tài sản đó vẫn được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng.
4. Việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu trong những trường hợp nào?
Theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị cấm khi:
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền lợi của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động.
- Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ: nuôi dưỡng, cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại; thanh toán khi bị tuyên bố phá sản; trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
5. Trong cổ luật Việt Nam (Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ), khối điền sản của gia đình được phân chia thành những loại nào?
Trong cổ luật phong kiến Việt Nam, điền sản trong gia đình được phân thành 3 loại:
- Phu tông điền sản: Tài sản của người chồng được thừa kế từ dòng họ nhà chồng.
- Thê điền sản: Tài sản của người vợ được thừa kế từ gia đình nhà vợ.
- Tần tảo điền sản: Những tài sản do công sức lao động của cả hai vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Sỹ Hoài Nam đã phân tích một cách hệ thống những vấn đề lý luận và pháp lý thực định về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác giả đã làm nổi bật các nguyên tắc bình đẳng giới, cơ chế bảo vệ giao dịch ngay tình và ranh giới pháp lý giữa khối tài sản chung và tài sản riêng. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học và kiến nghị thực tiễn nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý về hôn nhân gia đình, góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của quan hệ gia đình trong bối cảnh hiện nay.