Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Tài nguyên rừng là một bộ phận trọng yếu của tài nguyên thiên nhiên, vừa duy trì cân bằng sinh thái, nuôi dưỡng sự sống, vừa là nguồn lực kinh tế - tài chính quan trọng của quốc gia. Nhằm thiết lập cơ chế quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc, từ Hiến pháp năm 1980 đến nay, Nhà nước Việt Nam duy trì và khẳng định chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, việc vận hành chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng bộc lộ những yêu cầu mới về mặt điều chỉnh pháp lý:

  • Vừa phải đảm bảo vai trò chủ đạo của Nhà nước trong quản lý, bảo tồn vốn rừng tự nhiên và rừng phòng hộ, đặc dụng.
  • Vừa phải mở rộng cơ chế thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với rừng sản xuất là rừng trồng để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển lâm nghiệp.

Nghiên cứu của tác giả xuất phát từ yêu cầu làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu tài nguyên rừng tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm làm sáng tỏ bản chất của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng.
  2. Phân tích nội dung và phương thức thực hiện quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng ở Việt Nam theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên cả hai hình thức: sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân.
  3. Đánh giá những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu tài nguyên rừng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam; các quy định pháp lý điều chỉnh chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng với hai hình thức cụ thể là sở hữu Nhà nước đối với rừng và sở hữu tư nhân đối với rừng sản xuất là rừng trồng.
  • Phạm vi nội dung và pháp lý: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam bao gồm Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật Đất đai năm 2013, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý và sở hữu rừng trên phạm vi cả nước, tập trung vào giai đoạn thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 với các số liệu thống kê hiện trạng rừng đến hết năm 2013 (công bố năm 2014) và các văn bản cập nhật đến năm 2015.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chế độ công hữu tư liệu sản xuất và vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực từ các tổ chức quốc tế và văn bản pháp luật quốc gia:

  • Khái niệm rừng: Đối chiếu giữa định nghĩa của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) và khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 kết hợp Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT. Rừng tại Việt Nam được xác định dựa trên 3 tiêu chí: (1) Hệ sinh thái có thành phần chính là cây thân gỗ, cau dừa, tre nứa có chiều cao trung bình từ 5m trở lên (hoặc mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên đối với rừng mới trồng, rừng ngập mặn); (2) Độ che phủ tán rừng từ 0,1 trở lên; (3) Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha hoặc dải rừng rộng tối thiểu 20m có từ 3 hàng cây.
  • Khái niệm chủ rừng: Khoản 4 Điều 3 và Điều 5 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 phân loại 7 nhóm chủ rừng được giao rừng, thuê rừng, giao/thuê đất trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp (1959, 1980, 1992, 2013); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (1991, 2004); Luật Đất đai (2013); Bộ luật Dân sự (2005); Nghị định 23/2006/NĐ-CP; Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Nghị định 43/2014/NĐ-CP; Quyết định 186/2006/QĐ-TTg; Quyết định 147/2007/QĐ-TTg; Quyết định 57/2012/QĐ-TTg; Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT; Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Rà soát, mổ xẻ các điều khoản luật thực định về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt rừng; tổng hợp đánh giá thực trạng các mô hình sở hữu, phân bổ diện tích và các bất cập pháp lý.
  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và tài liệu: Thu thập, khai thác tài liệu chuyên khảo, luận văn, báo cáo ngành lâm nghiệp, số liệu thống kê chính thức từ các cơ quan nhà nước.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh mô hình sở hữu rừng của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Thụy Điển, Nga, Trung Quốc, Phần Lan; so sánh quy định giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 và năm 2004.
  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đánh giá sự biến chuyển của chế độ sở hữu tài nguyên rừng qua các giai đoạn lập hiến gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Nguồn dữ liệu

  • Số liệu thống kê diện tích rừng toàn quốc năm 2013 theo Quyết định 3322/QĐ-BNN-TCLN (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 28/7/2014).
  • Báo cáo phát triển ngành lâm nghiệp năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Báo cáo khoa học, số liệu khảo sát từ các tổ chức trong nước và quốc tế (FAO, World Bank, WWF, Trung tâm Con người và Thiên nhiên).
  • Các nghiên cứu chuyên khảo và bài báo khoa học của các tác giả Nguyễn Thanh Huyền, Tô Xuân Phúc, Trần Hữu Nghị, Hoàng Huy Tuấn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về chế độ sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận, lịch sử lập hiến và các đặc trưng cốt lõi của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng tại Việt Nam:

  • Phân loại rừng và hiện trạng tài nguyên rừng: Căn cứ vào mục đích sử dụng, rừng được phân thành 3 loại: Rừng phòng hộ (RPH), Rừng đặc dụng (RĐD) và Rừng sản xuất (RSX). Căn cứ theo nguồn gốc hình thành, rừng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng. Tính đến hết năm 2013, tổng diện tích rừng cả nước đạt khoảng 13,95 triệu ha (độ che phủ 40%), trong đó rừng tự nhiên là 10,4 triệu ha, rừng trồng là 3,55 triệu ha. Tổng trữ lượng gỗ đạt 813,3 triệu m³ (rừng tự nhiên chiếm 94%, rừng trồng chiếm 6%) và khoảng 8,5 tỷ cây tre nứa.
Tiêu chí phân loại Diện tích (triệu ha) Tỷ lệ trong tổng diện tích Ghi chú cấu phần
Tổng diện tích rừng toàn quốc 13,95 100% Độ che phủ đạt 40%
Phân theo nguồn gốc:
- Rừng tự nhiên 10,40 74,55% RPH & RĐD chiếm 57,6%; RSX chiếm 42,4%
- Rừng trồng 3,55 25,45% RSX chiếm 74,65% (2,65 tr ha); RPH & RĐD chiếm 25,35%
Phân theo mục đích sử dụng:
- Rừng sản xuất (RSX) 7,18 51,47% Phục vụ sản xuất, kinh doanh gỗ và lâm sản
- Rừng phòng hộ (RPH) 4,67 33,48% Đầu nguồn, chắn gió cát, chắn sóng lấn biển
- Rừng đặc dụng (RĐD) 2,10 15,05% Vườn quốc gia, khu bảo tồn, cảnh quan
  • Cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân: Xuất phát từ lý luận Mác - Lênin về sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất chủ yếu, định hướng xã hội chủ nghĩa và tầm quan trọng sống còn của rừng đối với an ninh môi trường, kinh tế xã hội (ngành lâm nghiệp đóng góp 5,9% GDP năm 2013). Về lịch sử pháp lý, Hiến pháp năm 1959 bước đầu xác lập tài nguyên là của toàn dân nhưng vẫn công nhận sở hữu tư nhân; Hiến pháp năm 1980 chính thức quy định tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân và tiếp tục được khẳng định qua Hiến pháp năm 1992 và Điều 53 Hiến pháp năm 2013.
  • Hai đặc trưng cốt lõi của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng:
    1. Thực hiện thông qua cơ chế đại diện của Nhà nước: Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý bằng quyền lực công (lập chiến lược, quy hoạch kỳ hạn 10 năm, kế hoạch 5 năm theo Nghị định 23/2006/NĐ-CP, giao/cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng).
    2. Tồn tại hai hình thức sở hữu cụ thể: Hình thức sở hữu Nhà nước đối với toàn bộ rừng tự nhiên, rừng do Nhà nước đầu tư, động thực vật hoang dã, đất rừng; và hình thức sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư. Quyền sở hữu tư nhân này mang tính tương đối vì gắn liền với đất rừng thuộc sở hữu toàn dân.

Chương 2: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế xác lập, vận hành, những kết quả và hạn chế trong thực tiễn thi hành quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng:

  • Hình thức sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng:
    • Điều kiện xác lập: Vốn đầu tư không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận đầu tư hợp pháp theo Điều 33 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
    • Quyền năng của chủ sở hữu tư nhân: Được ghi nhận quyền sở hữu trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; toàn quyền sở hữu cây trồng, vật nuôi tự đầu tư; tự chủ quyết định tuổi khai thác và lưu thông sản phẩm (chỉ cần báo trước 10 ngày làm việc cho UBND cấp xã theo Quyết định 186/2006/QĐ-TTg); thực hiện các giao dịch dân sự, thương mại (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho thuê rừng).
    • Hạn chế thực tế: Diện tích RSX là rừng trồng chỉ chiếm khoảng 19% tổng diện tích rừng, trong đó khối doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ nắm giữ khoảng 1% (hơn 200.000 ha). Tiếp cận đất rừng gặp khó khăn do thủ tục cấp giấy chứng nhận phức tạp, chu kỳ sản xuất dài trong khi vốn vay ngân hàng thương mại có lãi suất cao và thời hạn ngắn.
  • Cơ cấu quản lý và thực trạng thực hiện quyền sử dụng rừng:
Nhóm chủ thể quản lý/sử dụng rừng Diện tích nắm giữ (ha) Tỷ lệ (%) Thực trạng và tồn tại pháp lý
Ban quản lý RPH, RĐD 4.740.000 33,0% Quản lý diện tích lớn nhưng kinh phí mỏng, thiếu cơ chế hưởng lợi; xảy ra nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng (Bà Nà - Núi Chúa, Nam Cát Tiên, Phú Quốc).
Hộ gia đình, cá nhân 3.400.000 25,0% Nắm giữ diện tích lớn nhưng thiếu vốn và kỹ thuật thâm canh.
UBND cấp xã (tạm quản lý) 2.300.000 16,5% Diện tích rừng chưa giao còn rất lớn, xã thiếu năng lực chuyên môn và nhân lực bảo vệ.
Doanh nghiệp Nhà nước (Công ty lâm nghiệp) 1.953.000 14,0% Đa phần nhận RSX là rừng tự nhiên nghèo kiệt, vướng mắc cơ chế tài chính.
Cộng đồng dân cư thôn ~600.000 4,3% 96% là rừng tự nhiên nghèo kiệt; vướng mắc giữa luật tục và pháp luật nhà nước; cộng đồng không được công nhận tư cách chủ rừng đầy đủ, không có quyền giao dịch giá trị quyền sử dụng rừng.
Tổ chức kinh tế khác (Tư nhân) ~200.000 1,0% 76,54% là rừng trồng; khó tiếp cận đất rừng quy mô lớn do thủ tục và thuế suất.
Các đối tượng khác ~757.000 6,2% Đơn vị vũ trang, tổ chức khoa học...
  • Bất cập trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng: Quy định phân cấp cho địa phương còn lỏng lẻo dẫn đến việc chuyển đổi ồ ạt đất rừng sang mục đích kinh tế. Năm 2013, có 37 tỉnh chuyển đổi 9.528,48 ha rừng sang mục đích khác (nông nghiệp: 2.868,57 ha; khoáng sản: 1.014,99 ha; thủy lợi: 451,41 ha; giao thông: 461,57 ha; thủy điện: 332,71 ha). Toàn quốc có khoảng 834 công trình thủy điện lớn nhỏ làm mất gần 20.000 ha rừng (trong đó có 3.411 ha RĐD), bình quân 1 dự án thủy điện chiếm 59 ha rừng. Đến tháng 10/2013, tỷ lệ trồng rừng thay thế của các dự án thủy điện chỉ đạt 13% (2.805,3 ha) và chưa có chủ đầu tư nào thực hiện nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
  • Định hướng và giải pháp hoàn thiện:
    1. Cơ chế tài chính và kỹ thuật: Phát triển tín dụng ưu đãi dài hạn, nhân rộng mô hình Ngân hàng Thế giới hỗ trợ (giai đoạn 2005-2015 đã hỗ trợ hơn 43.000 hộ dân trồng 76.500 ha rừng tại 6 tỉnh miền Trung); học tập kinh nghiệm Phần Lan về hệ thống dịch vụ khuyến lâm và cấp chứng chỉ rừng.
    2. Sửa đổi quy định quản lý và điều phối rừng: Phân loại lại rừng thành 2 nhóm (Rừng sản xuất/kinh tế và Rừng bảo vệ/bảo tồn); bỏ thẩm quyền lập quy hoạch của UBND cấp xã; quy định thẩm quyền của Quốc hội phê duyệt chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đối với các dự án lớn (từ 50 ha RĐD/RPH đầu nguồn, từ 200 ha RPH chắn sóng/cát, từ 500 ha RSX).
    3. Đẩy mạnh xã hội hóa lâm nghiệp: Giao 2,3 triệu ha rừng do UBND xã quản lý cho người dân và cộng đồng; công nhận tư cách pháp lý chủ rừng cho cộng đồng dân cư thôn; miễn thu tiền sử dụng rừng tự nhiên nghèo giao cho các công ty lâm nghiệp và cho phép góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực tiễn

Khóa luận đã hệ thống hóa và phân tích bức tranh tổng thể về quyền sở hữu rừng tại Việt Nam với các dữ kiện thực chứng:

  • Làm rõ mâu thuẫn giữa quy định pháp luật và thực tế phân bổ: Mặc dù pháp luật cho phép 7 nhóm chủ rừng tham gia tiếp cận tài nguyên rừng, song khối tư nhân chỉ chiếm 1% diện tích, trong khi 2,3 triệu ha rừng vẫn nằm dưới dạng tạm quản lý của UBND cấp xã do chưa có chủ thể nhận giao rừng.
  • Phân tích tính thiếu khả thi trong cơ chế trồng rừng thay thế: Tỷ lệ thực hiện trồng rừng thay thế khi xây dựng thủy điện chỉ đạt 13% (2.805,3 ha trên tổng số gần 20.000 ha rừng bị chuyển đổi), phản ánh lỗ hổng trong Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT khi thiếu chế tài cưỡng chế nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
  • Đánh giá vai trò quản lý cộng đồng: Gần 600.000 ha rừng giao cho cộng đồng thôn bản (96% là rừng tự nhiên) nhưng hiệu quả chưa cao do thiếu tư cách chủ rừng theo luật và xung đột giữa luật tục với pháp luật quốc gia.

Hệ thống kiến nghị, giải pháp

Khóa luận đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 3 nhóm:

                          CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Tác giả tự nêu rõ đóng góp khoa học của đề tài so với các công trình trước đó (như các nghiên cứu của Hoàng Huy Tuấn, Tô Xuân Phúc, Nguyễn Thị Thu Trang hay sách chuyên khảo của Nguyễn Thanh Huyền vốn chỉ tập trung vào một phân khúc hẹp như giao đất giao rừng vùng cao hoặc quản lý hành chính):

  • Khóa luận đã khái quát toàn diện chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng dưới góc độ luật học kinh tế - thương mại.
  • Làm rõ cơ chế vận hành song song của hai hình thức sở hữu: Sở hữu Nhà nước mang tính tuyệt đối và sở hữu tư nhân đối với rừng trồng mang tính tương đối.
  • Đưa ra giải pháp phân loại lại rừng theo chuẩn quốc tế nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho việc thương mại hóa rừng sản xuất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Các dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê trong khóa luận được giới hạn đến thời điểm năm 2013-2015, dựa trên nền tảng thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Đất đai năm 2013. Một số số liệu thực tế về chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và tranh chấp đất rừng chưa được khảo sát định lượng chi tiết tại tất cả các địa phương trên cả nước do điều kiện tiếp cận tư liệu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá các tác động thực tế của việc sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 trong các giai đoạn tiếp theo; đi sâu phân tích cơ chế thương mại hóa các dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ carbon (REDD+) và hoàn thiện chế định sở hữu tài sản của cộng đồng dân cư đối với tài nguyên thiên nhiên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Kinh tế, Luật Đất đai - Môi trường; là tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu về chế độ sở hữu tài sản công và pháp luật lâm nghiệp.
  • Các nhà nghiên cứu chính sách nông - lâm nghiệp: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng giai đoạn 2004-2013 và các phân tích pháp lý về bất cập trong quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, chuyển mục đích sử dụng rừng làm thủy điện.
  • Phần đáng tham khảo nhất:
    • Bảng luận cứ phân biệt quyền năng giữa chủ sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng và các chủ rừng chỉ có quyền sử dụng rừng (Chương 2, Mục 2.1 và 2.2).
    • Phân tích thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đánh giá cơ chế giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn (Chương 2, Mục 2.3).

Câu hỏi thường gặp

1. Pháp luật Việt Nam quy định tiêu chí nào để một diện tích thực vật được công nhận là rừng?

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT, một diện tích thực vật được xác định là rừng khi đáp ứng đủ 3 tiêu chí:

  1. Là hệ sinh thái có cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa đạt chiều cao trung bình từ 5m trở lên (với rừng mới trồng hoặc rừng ngập mặn, chiều cao có thể thấp hơn nhưng phải đạt mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên).
  2. Độ che phủ của tán rừng (độ tàn che) phải đạt từ 0,1 trở lên.
  3. Diện tích rừng liền khoảnh đạt tối thiểu từ 0,5 ha trở lên hoặc là dải rừng có chiều rộng tối thiểu 20m và có từ 3 hàng cây trở lên.

2. Tư nhân được sở hữu những loại rừng nào theo quy định của pháp luật?

Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Nhà nước chỉ công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với một loại rừng duy nhất là Rừng sản xuất là rừng trồng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư (không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước). Toàn bộ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng trồng bằng vốn nhà nước đều thuộc sở hữu nhà nước.

3. Tại sao quyền sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng chỉ mang tính chất tương đối?

Quyền sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng chỉ mang tính tương đối vì:

  • Theo Điều 4 Luật Đất đai năm 2013, đất rừng luôn thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý; chủ rừng chỉ có quyền sử dụng đất chứ không sở hữu đất rừng.
  • Chủ rừng chỉ sở hữu cây trồng, vật nuôi do mình bỏ vốn đầu tư; đối với các loài động, thực vật nguy cấp, quý hiếm hoặc động vật hoang dã sinh trưởng trong rừng thì vẫn thuộc quyền quản lý thống nhất của Nhà nước.
  • Việc lựa chọn giống cây trồng, thời điểm khai thác, phương án bảo vệ vẫn phải tuân thủ quy hoạch và danh mục loài cây do Nhà nước ban hành.

4. Thực trạng chuyển đổi đất rừng cho các dự án thủy điện bộc lộ những bất cập gì trong văn bản?

Đến năm 2013, cả nước có gần 834 dự án thủy điện, làm mất gần 20.000 ha rừng (bình quân 1 dự án thủy điện chiếm 59 ha rừng), trong đó có 3.411 ha rừng đặc dụng. Bất cập lớn nhất là việc thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế theo Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT chỉ đạt 13% diện tích (2.805,3 ha) và chưa có bất kỳ chủ đầu tư thủy điện nào thực hiện nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng do thiếu chế tài cưỡng chế và thời hạn bắt buộc.

5. Tác giả đề xuất phân loại lại rừng ở Việt Nam như thế nào?

Tác giả đề xuất chuyển từ mô hình phân loại 3 loại rừng hiện hành (RPH, RĐD, RSX) sang mô hình 2 nhóm rừng phù hợp với thông lệ quốc tế:

  1. Rừng sản xuất (hoặc Rừng kinh tế): Gồm toàn bộ diện tích RSX hiện nay cùng với diện tích RPH xung yếu và ít xung yếu.
  2. Rừng bảo vệ, bảo tồn: Gồm toàn bộ diện tích RĐD và RPH rất xung yếu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thanh Nga đã luận giải sâu sắc cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ nét đặc thù giữa quyền sở hữu đại diện của Nhà nước đối với rừng tự nhiên và quyền sở hữu tương đối của tư nhân đối với rừng sản xuất là rừng trồng. Dựa trên việc phân tích các bất cập thực tiễn về cơ cấu quản lý chủ rừng, công tác giao đất giao rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang thủy điện, tác giả đã đưa ra các kiến nghị có giá trị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật lâm nghiệp và thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng bền vững.