Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Chế Độ Sở Hữu Tài Nguyên Rừng Ở Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở việt nam, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải tiến thực tế.

Chuyên ngành

Luật Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2015

58
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN RỪNG Ở VIỆT NAM

0.1.1. Một số khái niệm

0.1.2. Khái niệm rừng và tài nguyên rừng

0.1.3. Khái niệm chủ rừng

0.1.4. Cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam

0.1.5. Đặc trưng của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam

1. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG QUYỀN SỞ HỮU RỪNG Ở VIỆT NAM

1.1. Hình thức sở hữu tư nhân đối với rừng sản xuất là rừng trồng

1.2. Phương thức thực hiện quyền sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng

1.3. Thực trạng quyền sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng

1.4. Hình thức sở hữu Nhà nước đối với rừng

1.5. Các phương thức điều phối rừng của Nhà nước

1.6. Thực trạng thực hiện quyền sử dụng rừng ở Việt Nam

1.7. Hướng hoàn thiện pháp luật về sở hữu rừng ở Việt Nam

KẾT LUẬN

2. CHƯƠNG 2

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chế Độ Sở Hữu Tài Nguyên Rừng Ở Việt Nam

Chế độ sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam là một vấn đề quan trọng trong quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên rừng không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế mà còn trong bảo vệ môi trường. Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tài nguyên rừng được xác định là tài sản của toàn dân, do Nhà nước đại diện quản lý. Điều này tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.

1.1. Khái Niệm Về Tài Nguyên Rừng

Tài nguyên rừng bao gồm thực vật, động vật và các yếu tố tự nhiên liên quan đến rừng. Rừng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp lâm sản, bảo vệ môi trường và duy trì đa dạng sinh học. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 13,95 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10,4 triệu ha.

1.2. Đặc Trưng Của Chế Độ Sở Hữu Rừng

Chế độ sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam được xác định là sở hữu toàn dân. Điều này có nghĩa là mọi người dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Nhà nước đóng vai trò quản lý và điều phối các hoạt động liên quan đến tài nguyên rừng.

II. Thực Trạng Quyền Sở Hữu Rừng Ở Việt Nam Hiện Nay

Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam hiện nay cho thấy sự phân chia rõ ràng giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân. Hình thức sở hữu tư nhân chủ yếu tập trung vào rừng sản xuất, trong khi rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu Nhà nước. Điều này tạo ra một hệ thống quản lý rừng đa dạng nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo vệ tài nguyên rừng.

2.1. Hình Thức Sở Hữu Tư Nhân Đối Với Rừng Sản Xuất

Rừng sản xuất chủ yếu là rừng trồng, nơi người dân có thể thực hiện quyền sở hữu và khai thác. Tuy nhiên, việc quản lý và bảo vệ rừng sản xuất vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, như việc đảm bảo quyền lợi cho người dân và bảo vệ môi trường.

2.2. Hình Thức Sở Hữu Nhà Nước Đối Với Rừng

Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu Nhà nước, với mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Nhà nước có trách nhiệm quản lý và bảo vệ các khu rừng này, nhưng thực tế cho thấy còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện.

III. Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Tài Nguyên Rừng

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn. Việc cải thiện khung pháp lý, tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục cộng đồng về bảo vệ rừng là rất cần thiết. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

3.1. Cải Thiện Khung Pháp Lý Về Quản Lý Rừng

Cần rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quản lý tài nguyên rừng. Điều này giúp tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng và thuận lợi cho việc bảo vệ và phát triển rừng.

3.2. Tăng Cường Giáo Dục Và Tuyên Truyền

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của tài nguyên rừng và các biện pháp bảo vệ là rất cần thiết. Các chương trình tuyên truyền cần được triển khai rộng rãi để nâng cao nhận thức của người dân.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Tài Nguyên Rừng

Các nghiên cứu về tài nguyên rừng đã chỉ ra rằng việc quản lý hiệu quả tài nguyên rừng không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra nguồn thu nhập bền vững cho người dân. Các mô hình quản lý rừng cộng đồng đã được áp dụng thành công ở nhiều địa phương, mang lại lợi ích cho cả cộng đồng và môi trường.

4.1. Mô Hình Quản Lý Rừng Cộng Đồng

Mô hình quản lý rừng cộng đồng đã cho thấy hiệu quả trong việc bảo vệ tài nguyên rừng. Người dân tham gia trực tiếp vào quản lý và bảo vệ rừng, từ đó nâng cao ý thức và trách nhiệm của họ.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Đa Dạng Sinh Học

Nghiên cứu cho thấy Việt Nam có đa dạng sinh học phong phú, với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Việc bảo vệ tài nguyên rừng không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn góp phần vào phát triển bền vững.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Chế Độ Sở Hữu Tài Nguyên Rừng

Chế độ sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là của toàn xã hội. Tương lai của tài nguyên rừng phụ thuộc vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Bảo Vệ Rừng

Bảo vệ tài nguyên rừng là nhiệm vụ quan trọng không chỉ cho hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Cho Tài Nguyên Rừng

Cần có các chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội là rất cần thiết để đạt được mục tiêu này.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về chế độ sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam. KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TÀI NGUYÊN RỪNG Ở VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm rừng và tài nguyên rừng 1.1 Khái niệm rừng Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quốc ( FAO): Rừng là một khu vực đất đai có diện tích lớn hơn 0,5 ha với độ che phủ của tán rừng trên 10%, độ cao trung bình tối thiểu của cây phải đạt 5m, rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng1. Khái niệm này được kết hợp từ các yếu tố như mật độ cây, chiều cao của cây, cách thức sử dụng đất rừng và chức năng sinh thái để đưa ra một khái niệm về rừng thiên về liệt kê các đặc trưng của rừng để dễ dàng xác định một diện tích cây cối có phải là rừng trên thực tế hay không. Theo khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (Luật BVPTR) của Việt Nam thì "Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì rừng được xác định dựa theo ba tiêu chí2: (1) Là một hệ sinh thái với thành phần chính là các cây lâu năm thân gỗ, cau dừa, tre nứa có chiều cao trung bình từ 5m trở lên (trường hợp rừng mới trồng hoặc rừng ngập mặn ven biển độ cao của cây được quy định thấp hơn nhưng phải đảm bảo mật độ 1000 cây/ha trở lên), đủ khả năng cung cấp lâm sản, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học. (2) Độ tàn che của tán cây (độ che phủ của tán rừng) là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên. Độ che phủ của tán rừng được hiểu là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng3. (3) Diện tích rừng liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên hoặc là dải rừng có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên.

Với những hệ sinh thái nông nghiệp, diện tích nuôi trồng thủy sản có cây lâu năm là cây 1 http://www.htm, truy cập ngày 03/6/2015 2 Điều 3 thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NNPTNT) ngày 10/6/2009 quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng (TT 34/2009/TT-BNNPTNT) 3 Khoản 2 Điều 3 Luật BVPTR 4 thân gỗ, tre nứa, cau dừa, khu vực có cây cối nhưng không thuộc một trong hai trường hợp kể trên không được coi là rừng mà chỉ là cây phân tán. Bên cạnh những điểm tương đồng giữa khái niệm rừng của Việt Nam với khái niệm rừng của FAO về quy định độ che phủ của tán rừng đều phải từ 0. Khái niệm về rừng theo pháp luật Việt Nam không chỉ đưa ra định nghĩa rõ ràng về rừng mà còn là cơ sở để phân biệt rừng với những diện tích có thực vật khác, không phải rừng. Về phân loại rừng, Luật BVPTR căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu để chia rừng thành 3 loại: rừng phòng hộ (RPH), rừng đặc dụng (RĐD) và rừng sản xuất (RSX).

Đồng thời, kết hợp với nguồn gốc hình thành thì ba loại rừng này có thể là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng. Theo đó4:  Rừng phòng hộ: là rừng được xây dựng và phát triển cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. RPH bao gồm 4 loại là RPH đầu nguồn; RPH chắn gió, chắn cát bay; RPH chắn sóng, lấn biển; RPH bảo vệ môi trường.  Rừng đặc dụng: được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường.

RĐD bao gồm: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học.  Rừng sản xuất: là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường. RSX bao gồm RSX là rừng trồng, RSX là rừng tự nhiên và rừng giống. Để phục vụ cho công tác điều tra, kiểm kê, thống kê rừng, quy họach bảo vệ và phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình, dự án lâm nghiệp ngày 10/6/2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông (Bộ NNPTNT) 4 Điều 4 Luật BVPTR 5 đã ban hành Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng (TT 34/2009/TT-BNNPTNT).

Theo đó, ngoài tiêu chí mục đích sử dụng, rừng còn có thể được phân loại căn cứ vào nguồn gốc hình thành, trữ lượng, loài cây hoặc điều kiện lập địa5. Theo tiêu chí điều kiện lập địa, rừng ở nước ta bao gồm rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nước, rừng trên đất cát. Theo tiêu chí loài cây có rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng cau dừa, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa. Dựa vào trữ lượng, phân biệt được đâu là rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng chưa có trữ lượng.

Nếu căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng được chia làm hai loại6:  Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên.  Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng. Theo số liệu thống kê được công bố gần đây nhất cho thấy7, tính đến hết năm 2013 Việt Nam có khoảng 13,95 triệu ha rừng. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm khoảng 10,4 triệu ha, còn lại là rừng trồng (3,55 triệu ha).

Nếu phân theo chức năng, khoảng 2,1 triệu ha là diện tích RĐD, khoảng 4,67 triệu ha là RPH và RSX chiếm diện tích 7,18 triệu ha.Trong tổng số 10,4 triệu ha rừng tự nhiên, RPH và RĐD chiếm 57,6%, còn lại (42,4%) là RSX. Đến nay, cả nước có khoảng 3,55 triệu ha rừng trồng, trong đó diện tích rừng trồng là RSX khoảng 2,65 triệu ha (74,65% trong tổng diện tích rừng trồng); phần còn lại (25,35%) là diện tích rừng trồng là RPH và RĐD. Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng tăng tương đối nhanh, với tốc độ khoảng 150. Điều này là cơ sở để tăng trữ lượng và chất lượng rừng trong tương lai cho nước ta.

Mặc dù có nhiều tiêu chí để phân chia rừng nhưng khi nghiên cứu về chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng, chúng ta quan tâm tới các loại rừng được phân loại căn cứ vào hai tiêu chí, đó là nguồn gốc hình thành và mục đích sử dụng. Bởi lẽ, các hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của Nhà nước như xác lập các khu rừng, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng, giao rừng, cho thuê rừng đều dựa trên kết quả phân loại rừng là RPH, RĐD hay RSX. Nhà nước quyết định giao rừng, cho thuê rừng cho chủ thể phù hợp cũng căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại rừng, hơn nữa là cơ sở để xem xét công nhận quyền sử dụng rừng và quyền sở hữu RSX là rừng trồng. Ngoài ra, phân loại rừng thành RPH, RĐD, RSX sẽ thuận tiện 5 Chương II TT 34/2009/TT-BNNPTNT 6 Điều 5 TT 34/2009/TT-BNNPTNT 7 Quyết định 3322/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ NNPTNT ngày 28 tháng 7 năm 2014 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013 (QĐ 3322/QĐ-BNN-TCLN) 8 Tô Xuân Phúc & Trần Hữu nghị (2014), Báo cáo giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội phát triển rừng và cải thiện sinh kế vùng cao, Huế, tr.12 6 cho việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của từng loại chủ rừng đối với mỗi loại rừng nhất định.

Có thể thấy nguồn gốc hình thành và mục đích sử dụng của từng loại rừng quyết định hình thức sở hữu đối với khu rừng đó có thể là hình thức sở hữu nào và phương thức thực hiện các quyền sở hữu của chủ sở hữu rừng.2 Khái niệm tài nguyên rừng Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có khả năng tái tạo được bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (cảnh quan rừng, vi sinh vật, thổ nhưỡng…)9. Như đã đề cập, tài nguyên rừng được cấu thành từ nhiều thành phần tự nhiên vô cùng phong phú, đa dạng. Trong đó có hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, mà đời sống của chúng đều liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành quần xã đa dạng sinh học. Không giống như không khí, gió hay năng lượng mặt trời là những nguồn tài nguyên vô hạn, tài nguyên rừng có giới hạn nhất định về trữ lượng, sẽ giảm dần cùng với hoạt động khai thác, sử dụng của con người.

Tuy nhiên, rừng lại là loại tài nguyên có thể tái tạo, phục hồi, thậm chí nâng cao chất lượng và trữ lượng thông qua quá trình tái sinh tự nhiên hoặc do con người gây trồng lại nếu như nhận được sự quản lý và bảo tồn hợp lý. Như chúng ta đã biết, tài nguyên rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống con người. Trước hết, hệ sinh thái rừng cung cấp lâm sản (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư trong xã hội; là nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, các ngành xây dựng cơ bản; cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người; cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm. Tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng, góp phần điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện, làm sạch không khí, điều hòa khí hậu.

Ngoài ra, rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm. Như vậy, tài nguyên rừng có giá trị to lớn với sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia, góp phần cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ