CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014.1 Khái quát chung về công ty cổ phần 1.1 Khái niệm công ty cổ phần Công ty là một trong những phát minh quan trọng nhất của loài người, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Được ra đời, phát triển qua hàng trăm năm với vô số định dạng và biến thể khác nhau, công ty trở thành một trong những thể chế tổ chức phổ biến nhất trên thế giới, nó giúp cho nền kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân. Khái niệm công ty trên thế giới chưa có sự đồng nhất, mỗi quốc gia lại có khái niệm công ty khác nhau, ví dụ như: Ở Pháp “công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó”.
Theo luật của Bang Georgia – Mỹ “một công ty là một pháp nhân được tạo ra bởi luật định nhằm một mục đích chung nào đó nhưng có thời hạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và các hoạt động được ấn định trong điều lệ”. Theo luật của Bang Lousiana – Mỹ “một công ty là một thực thể được tạo ra bởi luật định bao gồm một hoặc nhiều cá thể dưới một tên chung. Những thành viên có thể kế nghiệp lẫn nhau, vì thế công ty là một khối thống nhất. Tuy nhiên sự thay đổi của những cá thể trong công ty cho một mục đích cụ thể nào đó được xem xét như một con người cụ thể”.
Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra nhận định chung nhất về khái niệm công ty như sau: “Công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người (cá nhân hay pháp nhân) bằng một sự kiện pháp lí trong đó các bên thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hành các hoạt động để đạt mục tiêu chung”.vn/khai-niem-cong-ty-la-gi/) Công ty cổ phần là một loại hình công ty, được ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn nhanh, tận Luan van 8 dụng được nguồn vốn trong xã hội, tạo lợi nhuận từ nguồn vốn đó. Ra đời lần đầu tiên ở Anh từ cuối thế kỉ XVI, công ty cổ phần đã nhanh chóng phát triển và trở thành loại hình công ty phổ biến nhất trên thế giới với những ưu thế vượt trội của mình. Công ty cổ phần đã trở thành loại hình kinh doanh phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và "được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển" (Nguyễn Ngọc Bích, Luật doanh nghiệp: vốn và quản lý trong công ty cổ phần, NXB Trẻ, Hà Nội 2004, tr.
Công ty cổ phần là nơi tạo nên thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu, trái phiếu có tiềm năng, là sân chơi kinh doanh năng động, bình đẳng cho các nhà đầu tư. Ở các nước khác nhau, công ty cổ phần có những tên gọi khác nhau.Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)… (Viện Kinh tế Thế giới, Công ty cổ phần? Các nước phát triển – Quá trình thành lập, tổ chức quản lý, NXB. KHXH, Hà Nội 1991, tr. Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định khái niệm công ty cổ phần như sau: "1.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.” Khái niệm công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 được xây dựng dựa trên đặc điểm của loại hình công ty này. Từ khái niệm của Luật, công ty cổ phần được hiểu là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động các thành viên trong công ty không quan tâm nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến số vốn góp của họ.
Tư cách thành viên công ty và quyền cổ đông trong việc quyết định cơ cấu, hoạt động công ty được quyết định bởi số lượng cổ phiếu mà người đó nắm giữ. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính tổ chức cao, có cấu trúc phức tạp.2 Đặc điểm công ty cổ phần. * Đặc điểm chung: Công ty cổ phần là một loại hình công ty được Luật Doanh nghiệp điều chỉnh nên nó có đặc điểm chung của công ty như: - Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế; - Công ty cổ phần có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định. - Công ty cổ phần được kinh doanh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh.
* Đặc điểm đặc trưng: Bên cạnh những đặc điểm chung giống các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần còn có những đặc thù riêng, phân biệt với doanh nghiệp khác. - Thứ nhất, về vốn điều lệ công ty cổ phần. Theo khoản 29, điều 4, Luật doanh nghiệp 2014, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán cho công ty. Tức là vốn điều lệ phải là số vốn thực góp.
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn điều lệ công ty cổ phần chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh Luan van 10 mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần.
Ví dụ: Công ty cổ phần A có vốn điều lệ 60 tỷ đồng, chia thành các cổ phần, mỗi cổ phần có mệnh giá là 10.000 đồng/1 cổ phần thì số cổ phần của công ty là 6 triệu cổ phần. Công ty cổ phần có hai loại cổ phần: Cổ phần phổ thông; Cổ phần ưu đãi (cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định). Những công ty cổ phần đăng ký kinh doanh ngành nghề mà pháp luật yêu cầu về vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp (vốn pháp định) phải đáp ứng điều kiện về vốn pháp định. Ví dụ: kinh doanh bảo hiểm, chứng khoán, tổ chức tín dụng, bất động sản, kinh doanh vàng… Những ngành nghề đòi hỏi có vốn pháp định thì vốn điều lệ không thể nhỏ hơn vốn pháp định.
- Thứ hai, về thành viên công ty cổ phần: Thành viên của công ty cổ phần được gọi là cổ đông. Số lượng thành viên: chủ thể sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty gọi là cổ đông. Công ty cổ phần có tối thiểu là 3 cổ đông sáng lập và không quy định về số lượng cổ đông tối đa. Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức: + Cá nhân: không phân biệt nơi cư trú và quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 đều có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty cổ phần; nếu không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 thì có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần.
+ Tổ chức: tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính nếu không thuộc đối tượng bị cấm đều có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty cổ phần, có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần. Các cổ đông của công ty cổ phần bao gồm: + Dựa trên vai trò đối với việc thành lập công ty cổ phần: Luan van 11 (i) Cổ đông sáng lập: là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần. Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất ba cổ đông sáng lập, công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia tách hợp nhất, sát nhập từ công ty cổ phần khác không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập. (ii) Cổ đông góp vốn: là cổ đông đưa tài sản vào công ty trở thành chủ sở hữu chung của công ty.
+ Dựa trên cổ phần mà họ sở hữu: (i) Cổ đông phổ thông: là người sở hữu cổ phần phổ thông. Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ đông phổ thông. (ii) Cổ đông ưu đãi: là người sở hữu cổ phần ưu đãi. Công ty cổ phần có thể có cổ đông ưu đãi: cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
Cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết. - Thứ ba, là tư cách pháp nhân của công ty cổ phần: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần đáp ứng đủ bốn điều kiện của pháp nhân là: + Được thành lập hợp pháp, tiến hành làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư; + Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, bộ máy chặt chẽ với cơ chế làm việc rõ ràng; + Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. Có sự phân định rõ ràng giữa tài sản của cổ đông với tài sản công ty.