CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm Theo Phan Thị Thu Hà (2023), “tín dụng là mối quan hệ giữa người vay và người cho vay. Trong đó, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong thời gian nhất định nào đó.
Người đi vay có nghĩa vụ phải trả đủ số tiền hoặc hàng hóa đã đi vay khi đến hạn, có thể kèm hoặc không kèm theo lãi”. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), “tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận”. Theo tác giả Tô Ngọc Hưng (2019), thì “Tín dụng biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lại tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả. Cơ sở vật chất của tín dụng là tiền tệ và hàng hóa”.
Cũng theo tác giả Tô Ngọc Hưng (2019), “Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng (TCTD) với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền. Khi đó, bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian theo thoả thuận được cam kết trong hợp đồng. Các cá nhân, doanh nghiệp vay cần cần thanh toán đủ gốc, lãi khi đến thời hạn”. Từ những khái niệm trên, trong phạm vi nghiên cứu này, theo tác giả, “tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng thực hiện nghiệp vụ các cá nhân, tổ chức có nhu cầu vốn được vay vốn”.
Phân loại tín dụng ngân hàng Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các tiêu thức khác nhau. Theo tác giả Tô Ngọc Hưng (2019), tín dụng của NHTM được phân loại theo các tiêu thức sau. Căn cứ vào thời hạn tín dụng 8 Căn cứ thời hạn, tín dụng ngân hàng gồm 3 loại: - Tín dụng ngân hàng ngắn hạn: “là loại tín dụng có thời hạn dưới 01 năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Tín dụng ngân hàng ngắn hạn thường có ít rủi ro cho NHTM vì trong thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và NHTM thường luôn dự tính được những biến động đó.
Tín dụng ngắn hạn bao gồm chiết khấu, thấu chi, tín dụng ứng trước và tín dụng bổ sung vốn lưu động” [8]. - Tín dụng ngân hàng trung hạn: “là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh” [11]. - Tín dụng ngân hàng dài hạn: “là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Tín dụng ngân hàng dài hạn thường có mức độ rủi ro lớn do khó lường trước được những biến động có thể xảy ra” [11].
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, tín dụng ngân hàng gồm: - Tín dụng ngân hàng có bảo đảm: là hình thức ngân hàng cấp tín dụng mà các khoản tín dụng phát ra đều có tài sản thế chấp, cầm cố, chiết khấu hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Tín dụng ngân hàng không có bảo đảm (tín chấp): “là hình thức ngân hàng cấp tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Hình thức tín dụng này thường được áp dụng đối với những khách hàng truyền thống, có quan hệ giao dịch lâu dài với NHTM, khách hàng phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với NHTM như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…” [11], [28]. Căn cứ vào đối tượng khách hàng - Tín dụng khách hàng cá nhân:“là hình thức NHTM cấp tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình một khoản tín dụng để tiêu dùng hoặc kinh doanh trong thời gian 9 nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn” [28].
- Tín dụng khách hàng doanh nghiệp và các tổ chức: “là hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho doanh nghiệp và các tổ chức sử dụng một khoản vốn để sử dụng vào một mục đích nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn” [21]. Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng - Cho vay: Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2015), “cho vay là việc NHTM chuyển/đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Thời gian khoản vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận hồ sơ vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng” [11].
- Chiết khấu: “là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)” [8], [21]. - Cho thuê tài chính: “là việc cấp tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây: (i) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên; (ii) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại; (iii) Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời hạn cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó; (iv) Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng” [8], [11]. - Bảo lãnh: “là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM theo thỏa thuận” [8], [11]. - Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đồi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp 10 đồng, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
- Mua trái phiếu: “NHTM được quyền tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ” [8]. Trong phạm vi bài luận văn này, tác giả chỉ nghiên tín dụng của NHTM theo hình thức là cho vay. Chất lượng tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng Theo Tiêu chuẩn ISO 9000:2005, “Chất lượng được hiểu là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có; chất lượng sản phẩm là toàn bộ những đặc tính của sản phẩm thỏa mãn những đòi hỏi nhất định, tương ứng với công dụng của nó”.
Trên góc độ người tiêu dùng, theo quan điểm của Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu - European Organisation For Quality Control: “Chất lượng của sản phẩm là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những yêu cầu đòi hỏi của người sử dụng”. Theo từ điển tiếng Việt “Chất lượng tín dụng là một khái niệm thông dụng, bởi tín dụng bao hàm các hoạt động khác nhau khó đồng nhất và đo lường: cho vay, bảo lãnh, phát hành L/C, chiết khấu, bao thanh toán,. Thông thường trong phạm trù đơn giản chất lượng tín dụng được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một Tổ chức tín dụng (hay còn gọi là Chất lượng cho vay). Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2023), “Chất lượng tín dụng ngân hàng là ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn của các đối tượng khách hàng, đồng thời khi vay vốn khách hàng phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn cả tiền gốc và lãi cho khoản tiền vay”.
Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), “Chất lượng tín dụng ngân hàng là ngân hàng đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được hai yêu cầu của ngân hàng là an toàn và sinh lợi cho chính ngân hàng đó”. Trong phạm vi nghiên cứu này, chất lượng tín dụng ngân hàng được hiểu là khoản tín dụng đảm bảo mục tiêu tăng trưởng về quy mô, đồng thời đảm bảo sự an toàn và sinh lời cho ngân hàng. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng 11 1. Chỉ tiêu định lượng * Các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về quy mô (1) Tăng trưởng khách hàng vay vốn Khách hàng vay vốn của NHTM là số khách hàng hiện hiện còn nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định.
Mức độ tăng, giảm tuyệt đối số khách hàng vay vốn: Chỉ tiêu này phản ánh sự tăng/giảm số khách hàng của NHTM năm nay so với năm trước. Mức tăng/giảm Tổng khách hàng Tổng khách = - số khách hàng năm n hàng năm (n-1) Chỉ tiêu này lớn hơn 0 cho thấy số lượng khách hàng trong năm n lớn hơn năm (n-1). Điều này cho thấy sự phát triển về số lượng khách hàng vay vốn của ngân hàng.