Hà Thị Vân Anh: Đánh giá chất lượng sống người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện 108

Tài liệu phân tích chất lượng cuộc sống người bệnh đái tháo đường típ 2 và các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2025

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường típ 2

Chất lượng sống là một khái niệm toàn diện đánh giá sự hài lòng và thể chất, tinh thần của bệnh nhân tiểu đường típ 2 trong cuộc sống hàng ngày. Bệnh tiểu đường típ 2 là một bệnh mãn tính ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều khía cạnh của đời sống bệnh nhân. Việc đánh giá chất lượng cuộc sống không chỉ giúp các cán bộ y tế hiểu rõ tình trạng sức khỏe toàn diện mà còn hỗ trợ xây dựng kế hoạch điều trị hiệu quả hơn. Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, nghiên cứu chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường đóng vai trò quan trọng trong cải thiện dịch vụ y tế. Sự hiểu biết sâu sắc về yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống giúp nhân viên y tế cung cấp chăm sóc đặc biệt hơn cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa chất lượng sống liên quan đến sức khỏe

Chất lượng sống liên quan đến sức khỏe (Health-Related Quality of Life - HRQoL) là thang đo toàn diện bao gồm các khía cạnh thể chất, tâm lý, xã hội và chức năng của bệnh nhân. Với bệnh nhân tiểu đường típ 2, khái niệm này đặc biệt quan trọng vì bệnh ảnh hưởng đến khả năng làm việc, giao tiếp xã hội, sức khỏe tâm thần và độc lập tự chủ của bệnh nhân. Đánh giá HRQoL giúp phát hiện những vấn đề không được chú ý và cải thiện chiến lược điều trị toàn diện.

1.2. Tầm quan trọng của đánh giá chất lượng sống trong điều trị

Đánh giá chất lượng sống giúp các bác sĩ và cán bộ y tế không chỉ tập trung vào kiểm soát lượng đường huyết mà còn cải thiện toàn bộ tình trạng sống của bệnh nhân. Điều này hỗ trợ phát hiện sớm các biến chứng tâm lý, xã hội và cải thiện tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Nghiên cứu tại các bệnh viện như Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy bệnh nhân có chất lượng sống cao hơn thường có kết quả điều trị tốt hơn.

II. Thực trạng chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường típ 2

Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường típ 2 được đánh giá bằng bộ công cụ EQ-5D-5L, một thang đo quốc tế công nhận. Nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tiểu đường thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ tuổi tác, thời gian mắc bệnh, đến tình trạng kinh tế-xã hội. Kết quả từ các bệnh nhân điều trị ngoại trú cho thấy nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc quản lý bệnh hàng ngày. Việc đánh giá chất lượng sống định kỳ giúp phát hiện những bệnh nhân cần hỗ trợ thêm và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc sức khỏe phù hợp.

2.1. Các khía cạnh sức khỏe ảnh hưởng đến chất lượng sống

Chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường bị tác động bởi năm khía cạnh chính: khả năng vận động, khả năng tự chủ, hoạt động thường ngày, đau đớn/khó chịu, và lo âu/trầm cảm. Mỗi khía cạnh này được đánh giá từ mức độ không ảnh hưởng đến ảnh hưởng nặng nề. Bệnh nhân tiểu đường típ 2 thường gặp khó khăn trong hoạt động thể chất, lo âu về tình trạng bệnh và các biến chứng tiềm ẩn.

2.2. Sự khác biệt chất lượng sống giữa các nhóm bệnh nhân

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 chỉ ra rằng chất lượng sống có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm bệnh nhân dựa trên tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh và có biến chứng hay không. Bệnh nhân nữbệnh nhân cao tuổi thường có chất lượng sống thấp hơn. Bệnh nhân có biến chứng tiểu đường như bệnh tim, thận thường có chất lượng cuộc sống kém hơn bệnh nhân không có biến chứng.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống bệnh nhân

Chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường típ 2 chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và tình trạng kinh tế-xã hội đóng vai trò quan trọng. Yếu tố lâm sàng bao gồm thời gian mắc bệnh, kiểm soát lượng đường huyết, và sự hiện diện của biến chứng tiểu đường cũng tác động lớn. Ngoài ra, yếu tố hành vi như tuân thủ điều trị, thường xuyên kiểm tra sức khỏe, luyện tập thể dục và chế độ ăn uống lành mạnh có ảnh hưởng tích cực. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 xác định rằng các bệnh nhân được hỗ trợ kỹ năng quản lý bệnh tốt hơn có chất lượng cuộc sống cao hơn.

3.1. Yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội

Tuổi tác, giới tính, trình độ giáo dụctình trạng kinh tế là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng chất lượng sống. Bệnh nhân cao tuổi thường có chất lượng sống thấp hơn do khả năng vận động giảm. Bệnh nhân có thu nhập thấp gặp khó khăn trong tiếp cận thuốc men và dịch vụ y tế, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống. Giáo dục sức khỏe giúp bệnh nhân hiểu rõ về bệnh, từ đó cải thiện chất lượng sống.

3.2. Yếu tố lâm sàng và hành vi

Thời gian mắc bệnh càng dài, chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường thường càng giảm. Sự hiện diện của biến chứng như bệnh tim, bệnh thận, rối loạn tâm thần làm giảm chất lượng cuộc sống đáng kể. Tuân thủ điều trị, hoạt động thể chất đều đặn, và chế độ ăn uống kiểm soát là những yếu tố hành vi tích cực. Bệnh nhân tham gia các chương trình quản lý bệnhchất lượng sống tốt hơn.

IV. Công cụ đánh giá và khuyến nghị cải thiện chất lượng sống

Bộ công cụ EQ-5D-5L là một thang đo tiêu chuẩn quốc tế được sử dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để đánh giá chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường tipos 2. Công cụ này gồm năm chiều đo và một thang đo sức khỏe tổng thể, cho phép đánh giá toàn diện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Kết quả từ đánh giá chất lượng sống giúp các cán bộ y tế xác định những lĩnh vực cần can thiệp. Để cải thiện chất lượng sống, cần tăng cường giáo dục sức khỏe, hỗ trợ tâm lý, tối ưu hóa điều trị thuốc và khuyến khích bệnh nhân tiểu đường tham gia vào quy trình chăm sóc sức khỏe của mình.

4.1. Giới thiệu công cụ EQ 5D 5L

EQ-5D-5L là một thang đo chất lượng sống được phát triển bởi tổ chức EuroQol, gồm năm câu hỏi về khía cạnh sức khỏe và một thang đo trực quan. Công cụ này có ưu điểm ngắn gọn, dễ hiểu, được chuẩn hóa quốc tế, cho phép so sánh chất lượng sống giữa các bệnh nhân và các quốc gia khác nhau. Tại bệnh viện, công cụ này được sử dụng để đánh giá chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường một cách khoa học và hiệu quả.

4.2. Đề xuất cải thiện chất lượng sống bệnh nhân

Để nâng cao chất lượng sống bệnh nhân tiểu đường típ 2, cần thực hiện giáo dục sức khỏe định kỳ, hỗ trợ tâm lý, xây dựng nhóm hỗ trợ bệnh nhân. Cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế, tối ưu hóa điều trị, khuyến khích luyện tập thể dục và chế độ ăn uống lành mạnh. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 nên phát triển các chương trình quản lý bệnh toàn diện, giúp bệnh nhân tiểu đường cải thiện chất lượng cuộc sống một cách bền vững.

28/12/2025
Hà thị vân anh đánh giá chất lượng cuộc sống và một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện trung ương quân đội 108 khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) đang trở thành vấn nạn toàn cầu với tốc độ gia tăng nhanh chóng, trong đó khoảng 90% là người bệnh ĐTĐ típ 2. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2024, số người mắc bệnh ĐTĐ trong độ tuổi 20-79 trên toàn cầu là 589 triệu người, chiếm 11,1% dân số thế giới trong nhóm tuổi này. Con số này được dự đoán sẽ tăng lên 853 triệu (13%) vào năm 2050 [1]. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2023, nước ta có khoảng 7 triệu người mắc ĐTĐ [2].

Người mắc ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam do thu nhập tăng cùng tốc độ đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến chế độ ăn uống không lành mạnh và lối sống ít vận động sẽ trở nên phổ biến hơn [2]. Bệnh ĐTĐ típ 2 có nhiều tác động tiêu cực đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của người bệnh, không chỉ gây ra những đau đớn về mặt thể chất mà còn mang đến những gánh nặng về kinh tế và căng thẳng về mặt cảm xúc [3]. Các nghiên cứu đo lường chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh ĐTĐ típ 2 ngày càng phổ biến và được cho là hữu ích trong việc đánh giá một cách toàn diện về ảnh hưởng của bệnh tật [4]. Có nhiều công cụ khác nhau để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh ĐTĐ típ 2.

Một trong các bộ công cụ được sử dụng phổ biến để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh nói chung và người bệnh ĐTĐ nói riêng là bộ công cụ EQ- 5D-5L [5], [6]. Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 là bệnh viện đa khoa, chuyên sâu, bệnh viện hạng đặc biệt, tuyến cuối của ngành Quân y, trực thuộc Bộ Quốc phòng của Việt Nam. Số lượng người bệnh ĐTĐ khám và điều trị tại bệnh viện có xu hướng tăng, từ 4223 người năm 2022 đã lên 5069 người năm 2024. Chính vì vậy, vấn đề quản lý điều trị cho người bệnh hiệu quả rất được quan tâm.

Một trong những mục tiêu điều trị là nhằm nâng cao CLCS cho người bệnh. Tại bệnh viện TWQĐ 108 cũng đã có nghiên cứu công bố về CLCS đánh giá bằng bộ công cụ EQ-5D-5L ở người bệnh ĐTĐ típ 2 điều trị insulin tại khoa khám bệnh Cán bộ cao cấp [7]. Tuy nhiên, theo như hiểu biết của chúng tôi, chưa có nghiên cứu đánh giá CLCS của người bệnh ĐTĐ típ 2 có BHYT ở nhóm đối tượng dân và quân đội từ trung tá trở xuống. Đây là nhóm đối tượng khám và điều trị chiếm phần lớn tại viện.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 bằng bộ công cụ EQ-5D-5L 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Từ kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng tôi có thể đưa ra được những kiến nghị nhằm nâng cao được CLCS cho người bệnh ĐTĐ típ 2 tại bệnh viện TWQĐ 108.

Bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [8]. Phân loại Bệnh ĐTĐ được phân thành 4 loại chính: [8], [9] - Đái tháo đường típ 1: gây ra bởi sự phá hủy tế bào beta đảo tụy.

Người bệnh ĐTĐ típ 1 có tình trạng thiếu hụt insulin tuyệt đối, vì vậy bắt buộc phải dùng insulin để ổn định glucose huyết. - Đái tháo đường típ 2: chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ, đặc trưng bởi sự suy giảm chức năng tế bào beta đảo tụy không tự miễn trên nền đề kháng insulin. Bệnh thường xảy ra ở tuổi trung niên trở lên. ĐTĐ típ 2 còn gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin do sự thiếu hụt insulin ở người bệnh là tương đối.

- Đái tháo đường thai kỳ: là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó. - Thể chuyên biệt của ĐTĐ - Đái tháo đường thứ phát: ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 1. Dịch tễ học 1. Tình hình bệnh đái tháo đường trên thế giới Đái tháo đường là một trong những bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới, đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một vấn đề sức khỏe chung của cộng đồng, cần được quan tâm đặc biệt.

Theo Liên đoàn đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2024, số người mắc bệnh ĐTĐ trong độ tuổi 20-79 trên toàn cầu là 589 triệu người, chiếm 11,1% dân số thế giới trong nhóm tuổi này. Con số này được dự đoán sẽ tăng lên 853 triệu (13%) vào năm 2050. Tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực thành thị là 12,7% và ở khu vực nông thôn là 8,8%. Số người mắc bệnh ĐTĐ sống ở khu vực thành thị dự kiến sẽ tăng lên 654,7 triệu vào năm 2050, do quá trình đô thị hóa toàn cầu [1].

Theo ước tính năm 2024 có 251,7 triệu người trong độ tuổi 20-79 (42,8%) đang sống chung với bệnh ĐTĐ chưa được chẩn đoán trên toàn thế giới. Đáng chú ý, gần 90% trong số họ đang sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tỷ lệ cao nhất lần lượt là ở Châu Phi (72,6%), Tây Thái Bình Dương (50,0%) và Đông Nam Á (42,7%) [1]. 2 Bệnh ĐTĐ là nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn thế giới.

Ước tính có khoảng 3,4 triệu người lớn trong độ tuổi 20-79 đã tử vong do bệnh ĐTĐ hoặc các biến chứng của bệnh vào năm 2024, chiếm 9,3% số ca tử vong trên toàn cầu trong độ tuổi này. Gần 40% tổng số ca tử vong do bệnh ĐTĐ xảy ra ở những người trong độ tuổi lao động (20-59 tuổi) [1]. Chi phí y tế toàn cầu do bệnh ĐTĐ tăng là đáng kể, tăng từ 232 tỷ đô la Mỹ vào năm 2007 lên đến hơn một nghìn tỷ đô la Mỹ (1.015 tỷ đô la Mỹ) vào năm 2024 đối với người lớn từ 20-79 tuổi. Con số này thể hiện mức tăng 338% trong 17 năm [1].

Tình hình bệnh đái tháo đường tại Việt Nam Tỉ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam gia tăng nhanh chóng. Năm 1990, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà Nội), 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (ở thành phố Huế), nhưng đến năm 2012 theo 1 kết quả nghiên cứu công bố cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% [8]. Còn theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỷ lệ ĐTĐ được chẩn đoán là 31,1%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán là 69,9%. Trong số những người được chẩn đoán, tỷ lệ ĐTĐ được quản lý tại cơ sở y tế: 28,9%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được quản lý: 71,1%.

Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2019, Việt Nam có tỷ lệ 6% người trưởng thành mắc ĐTĐ [8]. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2023 nước ta có khoảng 7 triệu người mắc ĐTĐ. Đáng chú ý, hơn 55% người bệnh đã có biến chứng, trong đó 34% là biến chứng tim mạch; 39,5% có biến chứng mắt và biến chứng về thần kinh; 24% biến chứng về thận [2]. Theo IDF, năm 2024 nước ta có gần 2,5 triệu người trưởng thành (20-79 tuổi) mắc ĐTĐ, chiếm 3,4% dân số trong độ tuổi này.

Con số này được dự đoán sẽ tăng lên gần 2,7 triệu trong năm 2050. Ngoài ra, số trường hợp mắc ĐTĐ trong độ tuổi 20-79 không được chẩn đoán vào thời điểm năm 2024 là 945 nghìn người, tức là 37,8%. Số ca tử vong do bệnh ĐTĐ trong độ tuổi 20-79 trong năm 2024 vào khoảng 7,6 nghìn người (1,8%) [1]. Chất lượng cuộc sống ở người bệnh đái tháo đường típ 2 1.

Khái niệm chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ và chất lượng cuộc sống liên quan đến bệnh đái tháo đường Thuật ngữ “chất lượng cuộc sống” (Quality of Life - QoL) được đề cập lần đầu tiên vào năm 1920, tuy nhiên mãi đến năm 1960 mới thực sự được biết đến rộng rãi [10]. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu không chỉ thu hút sự quan tâm của các ngành như y tế, phục hồi chức năng, nghiên cứu về khuyết tật, dịch vụ xã hội, mà còn rất được chú 3 ý trong y học, giáo dục và các ngành khác [11]. Chất lượng cuộc sống là một khái niệm phức tạp và đa chiều [12]. Rất nhiều định nghĩa về chất lượng cuộc sống đã được đưa ra, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một sự đồng thuận nào giữa các cá nhân và tổ chức [13].

Hiện nay, trong các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới sử dụng khá phổ biến định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Chất lượng cuộc sống là nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống tại bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ”. Đây là một khái niệm rộng bị ảnh hưởng theo cách phức tạp bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, các mối quan hệ xã hội và mối quan hệ của họ với các đặc điểm nổi bật của môi trường xung quanh [14]. Thuật ngữ “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” (Health Related Quality of Life - HRQoL) đã được quan tâm từ những năm 1980 [15]. Trong khi QoL là một khái niệm rộng bao gồm tất cả các yếu tố tác động đến cuộc sống của một cá nhân thì HRQoL chỉ quan tâm đến những khía cạnh của cuộc sống có ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe, không bao gồm các yếu tố như hoàn cảnh kinh tế và chính trị [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ