Chương 1 C LÝLU VỀC ẤTL Ợ ĐỘI Ũ CÔ C ỨCCẤ TỘC T Ố ỜID IỂ L lậc về c c ức cấp c ể ố 1. hái niệ ng hứ ấp xã người n tộ thiểu số Công chức là một thuật ngữ được xuất hiện từ khi chế độ công vụ tồn tại và phát triển ở Anh từ năm 1859. Tùy thuộc vào lịch s , điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và cơ cấu bộ máy nhà nước của m i quốc gia trên thế giới nên khái niệm công chức ở các nước cũng khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung các quan niệm, định nghĩa đều cho r ng công chức của một quốc gia đều có những đặc trưng sau: - Là công dân của quốc gia đó.
- Được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan HCNN - Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Được xếp vào ngạch. - Được quản lý thống nhất và được điều chỉnh b ng những quy định của pháp luật. - Thừa hành các quyền lực do nhà nước giao cho, chấp hành các công vụ của nhà nước và quản lý nhà nước.
Các nước có phân biệt giữa công chức nhà nước với công chức địa phương. Công chức địa phương làm việc trong các cơ quan của chính quyền địa phương và hưởng lương từ ngân sách của địa phương. Tại Việt Nam, bên cạnh khái niệm công chức, còn có khái niệm công chức cấp xã. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại UBND cấp xã được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã.
9 Khoa học lịch s đã chứng minh tính đa dân tộc của quốc gia Việt Nam có từ ngày đầu dựng nước (Văn Lang thời Hùng Vương và Âu Lạc thời An Dương Vương). Trải qua quá trình phát triển hàng nghìn năm, Việt Nam ngày nay có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cả nước có 85.997 người, trong đó người Kinh là 73.427 người (chiếm 85,73 ) nên được xem là dân tộc đa số, 53 tộc người còn lại được xem là dân tộc thiểu số. Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét phạm vi vùng hay địa phương.
Bởi trên thực tế, một tộc người thiểu số nào đó (của cả nước) nhưng đặt trong phạm vi địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như: người Tày ở Cao B ng, người Thái ở Sơn La, người Mường ở Hòa Bình. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi, đây là nơi có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái. Cộng đồng các dân tộc nơi đây đã sớm cùng với các dân tộc trên cả nước đoàn kết chống lại thiên tai, địch họa tạo ra nhiều của cải vật chất nuôi sống con người; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Trong Đại từ điển Tiếng Việt, “dân tộc thiểu số" được định nghĩa là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế - xã hội [23, tr.
Tại Điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 14 tháng 01 năm 2011 về Công tác dân t c, đã chỉ rõ “Dân t c thi u s ” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ những phân tích như trên, tác giả luận văn quan niệm về công chức cấp xã là người DTTS như sau: Công ch c c i DTTS là nh ng c tuy n dụng gi m t ch c danh chuyên môn, nghi p vụ thu c UBND c p xã, có thành phần xu t thân từ các DTTS Vi t Nam. Đ điể ng hứ ấp xã người n tộ thiểu số N m trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước, ngoài những đặc điểm chung của công chức cấp xã, công chức cấp xã người DTTS có những đặc điểm riêng biệt: Th nh t, công chức cấp xã người DTTS có nhiệm vụ thực thi quyền lực nhà nước đối với các lĩnh vực hoạt động từ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa – giáo dục, xây dựng chính quyền địa phương và phát triển dịch vụ công đáp ứng nhu cầu của người dân trên địa bàn các xã miền núi. Do đó, việc thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS có tính pháp lý cao, vừa phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, mặt khác lại phải tuân thủ theo các quy định riêng của địa phương về chính sách an ninh quốc phòng, chính sách dân tộc.
Th hai, công chức cấp xã người DTTS chủ yếu là những người xuất thân từ địa phương và sinh sống tại địa phương đó. Họ trực tiếp tham gia sản xuất cùng với gia đình đồng thời tham gia thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương. Đội ngũ công chức cấp xã của các tỉnh miền núi hiện nay chủ yếu là người DTTS – đây là nguồn lực nội sinh rất quan trọng và dồi dào ở miền núi. Chính vì vậy để bộ máy chính quyền cơ sở hoạt động được là sự phấn đấu và sự cố gắng của các DTTS tại địa phương tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước.
Th ba, công chức cấp xã người DTTS am hiểu sâu sắc về phong tục, tập quán của dân tộc mình và phong tục, tập quán của các dân tộc khác trong địa phương. Vì vậy, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các phong tục, tập quán đó. M i dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng và những thói quen, tâm lý đó đã ảnh hưởng ít nhiều đến cách làm việc của đội ngũ công chức là người DTTS. Th công chức cấp xã người DTTS có lối sống thẳng thắn, chân thành, mộc mạc, giản dị, trọng danh dự, có thái độ yêu ghét rõ ràng.
Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lực tự cường và có niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. 11 Th ă công chức cấp xã người DTTS dễ tạo được lòng tin, uy tín với đồng bào DTTS tại địa phương. Công chức cấp xã là người DTTS có thành phần xuất thân từ địa phương, mặc khác có mối quan hệ dòng tộc trong cộng đồng cho nên khi triển khai thực thi công việc hay tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được đồng bào tin tưởng. Thực tế tại các địa phương cho thấy khi một dòng tộc có con cháu làm việc tại UBND xã thì người đó có uy tín và ảnh hưởng tích cực đối với cả dòng tộc và người dân tại các bản, làng.
Th sáu, một số công chức cấp xã người DTTS còn chậm thích ứng đối với sự thay đổi hơn so với công chức là người Kinh. Đội ngũ công chức người DTTS xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn về mặt kinh tế của gia đình, trong quá trình học tập từ bé đến lớn họ không có điều kiện học tập tốt, ít được tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng. Phần lớn, trong số họ được học trong các trường Đại học, hay các trường chuyên nghiệp chủ yếu theo diện ưu tiên, c tuyển cho nên họ không có sự đột phá trong thay đổi nhận thức, tư duy để đáp ứng với sự thay đổi của thế giới xung quanh. tr v i tr đội ngũ ng hứ ấp xã người n tộ thiểu số Cấp xã được xem là cơ sở của xã hội, là nơi cư trú, sinh sống của người dân, nơi thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu nối trực tiếp giữa dân với Đảng.
Do vậy năng lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã, đặc biệt là công chức cấp xã là người DTTS tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển đất nước. Chính vì vậy, công chức cấp xã người DTTS có một vị trí, vai trò quan trọng trong chính quyền cấp xã nói riêng và trong hệ thống chính trị cơ sở nói chung. Điều này được thể hiện cơ bản như sau: 12 M t là, công chức cấp xã người DTTS là người góp phần xây dựng và trực tiếp tổ chức cho nhân dân, nhất là đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cấp xã. Sinh ra, lớn lên từ cộng đồng các DTTS, hơn ai hết, cán bộ cấp xã người DTTS thấu hiểu đặc điểm tình hình vùng miền, phong tục, tập quán, tâm tư, nguyện vọng, thế mạnh và cả điểm yếu của đồng bào DTTS.
Vì vậy họ có thể đóng góp nhiều ý kiến vào cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp trên trong xây dựng chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào DTTS đoàn kết, đồng lòng thực hiện chủ trương, chính sách đó. Đồng thời, họ cũng là người phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của đồng bào đóng góp cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách cũng như tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày một tốt hơn. Hai là, công chức cấp xã người DTTS giữ vai trò trực tiếp chăm lo đời sống cho người dân địa phương, gắn kết các mối quan hệ hài hòa của người dân. Trong công tác, công chức người DTTS là người hoạt động chuyên môn, khi về với cuộc sống gia đình, với khu dân cư, họ là những người có uy tín trong gia đình và cộng đồng.
Ý kiến của họ có sức thuyết phục, hành động của họ có thể lôi cuốn, lan tỏa rộng. Bởi vậy, trong các phong trào xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng nông thôn mới. sự đi đầu gương mẫu của họ là tấm gương cho cả cộng đồng noi theo. Tiến bộ khoa học kỹ thuật, phương pháp sản xuất kinh doanh mới, lối sống tuân thủ pháp luật, ý thức cầu thị, tự vươn lên.
được lan tỏa trong đời sống cộng đồng DTTS chính nhờ một phần lớn từ đội ngũ này.