Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này sẽ đi giới thiệu các lý thuyết về dịch vụ, chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng. Căn cứ vào mối liên hệ về lý thuyết giữa chất lượng dịch vụ với sự thỏa mãn của khách hàng và sự thỏa mãn của khách hàng với xu hướng tiêu dùng dịch vụ trong tương lai, một mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cũng được xây dựng. Chương này bao gồm bốn phần chính: (1) dịch vụ và chất lượng dịch vụ, (2) chất lượng dịch vụ vận tải hàng không, (3) sự thỏa mãn của khách hàng và (4) mô hình nghiên cứu.2 Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2.1 Dịch vụ a) Khái niệm dịch vụ Có nhiều định nghĩa về dịch vụ của các tác giả khác nhau, có thể kể ra một số định nghĩa như sau: - Theo Heizer & Render (2006): Dịch vụ là các hoạt động của nền kinh tế nhằm tạo ra những sản phẩm đặc trưng vô hình (như: giáo dục, giải trí, phòng cho thuê, tài chính, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vận tải,…) [3, tr.
- Theo Philip Kotler (2004): Dịch vụ (services) là một hoạt động hay một lợi ích mà bên này cống hiến cho bên kia mà về cơ bản, nó vô hình và không dẫn đến sự sở hữu bất kỳ thứ gì [3, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 - Theo Bùi Nguyên Hùng (2004) thì “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách mà khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” [3, tr. Tóm lại dịch vụ ở đây có hàm ý là kết quả hoạt động của con người mang lại giá trị sử dụng cho người khác và có đặc tính vô hình.
Nó hoàn toàn khác với khái niệm dịch vụ khách hàng (các dịch vụ kèm theo để hoàn thành quá trình giao dịch marketing). b) Các đặc điểm của dịch vụ Lý thuyết về Marketing dịch vụ cho rằng dịch vụ có ba đặc tính cơ bản gồm vô hình, không đồng nhất và không thể tách ly [12, tr. 1) Vô hình: dịch vụ không thể cân đong, đo đếm, tồn trữ, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua. 2) Không đồng nhất: chất lượng của các dịch vụ cung cấp tùy thuộc vào từng nhà cung cấp, tùy thuộc vào cảm nhận của từng khách hàng và từng nhân viên hoặc nhóm nhân viên phục vụ trực tiếp thậm chí nó còn tùy thuộc vào từng thời điểm.
3) Không thể tách ly: khâu sản xuất và tiêu thụ của dịch vụ là không thể tách rời.2 Chất lượng dịch vụ a) Các quan điểm về chất lượng dịch vụ Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng dịch vụ, xin trích dẫn một số quan điểm về vấn đề này như sau: 1) Theo Lehtinen &ctg (1982): Chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh là (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) là kết quả của dịch vụ [13, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 2) Theo Gronroos (1984): Chất lượng dịch vụ gồm 2 khía cạnh là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Trong đó chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào [13, tr. 3) Theo Bùi Nguyên Hùng (2004): chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Mỗi khách hàng thường cảm nhận khác nhau về chất lượng và do đó việc tham gia của khách hàng trong việc phát triển và đánh giá chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng là một hàm của nhận thức khách hàng. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức, hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ [3, tr. 4) Theo Parasuraman & ctg, 1988 (là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong ngành tiếp thị một cách cụ thể và chi tiết): Chất lượng dịch vụ là “sự khác nhau giữa kỳ vọng và cảm nhận dịch vụ nhận được của khách hàng”.
Các nhà nghiên cứu này cũng đã đưa ra mô hình năm khoảng cách về chất lượng dịch vụ [13, tr. Mô hình này được trình bày ở Hình 2. - Khoảng cách thứ nhất phản ánh sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và cảm nhận của nhà quản trị dịch vụ về kỳ vọng của khách hàng. Nguyên nhân cơ bản tạo ra sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu biết được hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng dịch vụ của mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng.
- Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính chất lượng của dịch vụ. Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều của nhu cầu về dịch vụ. - Khoảng cách thứ ba xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí mà Công ty đã đặt ra. Nguyên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 nhân là do hạn chế về năng lực chuyên môn hay cũng có khi xuất phát từ thái độ phục vụ, ý thức trách nhiệm của nhân viên.
Thông tin Nhu cầu Kinh nghiệm truyền miệng cá nhân Dịch vụ kỳ vọng KHÁCH HÀNG Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận Khoảng cách 4 Thông tin đến Dịch vụ chuyển giao khách hàng Khoảng cách 3 ảng cách 1 Chuyển đổi cảm nhận của công ty Kho thành tiêu chí chất NHÀ TI ẾP THỊ lượng Khoảng cách 2 Nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng Nguồn: Parasuraman, Zeithaml &Berry (1985) [13, tr.1: Mô hình chất lượng dịch vụ - Phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo, khuyến mại có thể làm tăng kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ nhưng cũng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 22 sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo đúng những gì đã hứa hẹn. Đây là khoảng cách thứ tư. - Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng mà họ cảm nhận được.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này. Một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo. Parasuraman &ctg cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm. Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng cách 1, 2, 3 và 4.
Vì thế để rút ngắn khoảng cách thứ năm, hay làm tăng chất lượng dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này. Theo các nhà nghiên cứu này, mô hình chất lượng dịch vụ có thể được biểu diễn như phương trình (2.1) Tóm lại chất lượng dịch vụ được đánh giá theo quan điểm khách hàng dựa vào sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng của khách hàng và chất lượng mà khách hàng cảm nhận được về dịch vụ. b) Lý thuyết đo lường chất lượng dịch vụ Qua nhiều lần kiểm định mô hình, Parasuraman &ctg (1988) đã đưa ra bộ thang đo SERVQUAL gốc để đo lường chất lượng cảm nhận dịch vụ thông qua năm thành phần với tổng cộng 21 biến quan sát (Phụ lục 2. Mỗi thành phần được đo lường bằng nhiều biến quan sát [12, tr.
Năm thành phần của chất lượng dịch vụ trong thang đo SERVQUAL là: 1) Tin cậy (reliability): Mức độ tin cậy của dịch vụ thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 23 2) Đáp ứng (responsiveness): Mức độ đáp ứng của dịch vụ thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ về việc cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. 3) Năng lực phục vụ (assurance): Năng lực phục vụ thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng. 4) Đồng cảm (empathy): Mức độ đồng cảm của dịch vụ thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng.
5) Phương tiện hữu hình (tangibles): Phương tiện hữu hình của dịch vụ thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Qua nhiều lần kiểm định thang đo cùng với những nghiên cứu lý thuyết khác nhau, Parasuraman & ctg đã được khẳng định SERVQUAL là dụng cụ đo lường chất lượng dịch vụ chính và có độ tin cậy cao. Tuy nhiên cũng có nhiều nghiên cứu (ví dụ: Bakakus & Boller 1992; Behara & ctg 2002; Robinson 1999) chứng minh rằng các thành phần của chất lượng dịch vụ thay đổi theo từng bối cảnh khác nhau như loại hình dịch vụ, thị trường,… [12, tr.3 Chất lượng dịch vụ vận tải hàng không 2.1 Một số đặc trưng của dịch vụ vận tải hàng không a) Giá trị sử dụng: là sự thay đổi về mặt không gian của đối tượng được vận chuyển. Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá kết quả vận chuyển là khối lượng vận chuyển (số hành khách vận chuyển hay số tấn hàng hóa vận chuyển) và khối lượng luân chuyển (Hành khách-km và tấn-km).
Chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hiệu quả khai thác là hệ số sử dụng ghế/tải (load factor) - đó là tỷ số giữa tải thực hiện và tải cung ứng. b) Ưu thế của dịch vụ vận tải hàng không so với các dịch vụ vận tải khác: Dịch vụ vận tải hàng không có ưu thế hơn hẳn các dịch vụ vận tải khác về tầm vận chuyển, tốc độ vận chuyển và mức độ tiện nghi. Song cũng do những yêu cầu cao về công nghệ và phức tạp trong quy trình dịch vụ nên chi phí vận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 24 chuyển thường cao hơn chi phí vận chuyển của các loại hình vận tải khác. Vì vậy để đảm bảo tính cạnh tranh so với các loại hình vận tải khác, vận tải hàng không cần phải phát huy tốt các ưu thế của mình để tạo nên dịch vụ vận tải có ưu điểm vượt trội.