CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thanh toán quốc tế Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đã và đang trở thành một xu thế khách quan trong thời đại các nước đẩy mạnh sự hợp tác và hội nhập. Các quốc gia muốn hội nhập, phát triển kinh tế phải thông qua các quan hệ như chính trị, kinh tế, ngoại giao,… trong đó quan hệ kinh tế là nhân tố chủ đạo và là cơ sở cho các mối quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển.
Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT, trong đó, NH là cầu nối trung gian giữa các bên. Cuốn giáo trình của Nguyễn Văn Tiến (2021) “Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương” đã đề cập đến khái niệm “Thanh toán Quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.14] Dưới giác độ kinh tế, hoạt động TTQT chia thành hai lĩnh vực rõ ràng là: Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) và Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch). TTQT trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương.
Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch) là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa XNK cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, tức là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đặc điểm của thanh toán quốc tế Từ khái niệm TTQT, có thể rút ra các đặc điểm riêng của TTQT so với thanh toán trong nước như sau: Thứ nhất, hoạt động TTQT chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động TTQT liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó, các chủ thể khi tham gia vào hoạt động TTQT không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế. Những văn bản này tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thương mại và TTQT, tránh những hiểu lầm và tranh chấp đáng tiếc xảy ra Thứ hai, hoạt động TTQT được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống NH.
Trừ một lượng rất nhỏ hàng hóa XNK được mua bán qua con đường tiểu ngạch thì hầu hết kim ngạch xuất khẩu của một nước được phản ánh qua doanh số TTQT của hệ thống NHTM. Trong thực tiễn, người xuất khẩu (XK) và người nhập khẩu (NK) không thể và không được phép tiến hành thanh toán trực tiếp cho nhau, mà theo luật định phải thanh toán qua hệ thống NH. Điều này cho thấy, trong TTQT sẽ có ít nhất hai NH tham gia, một NH phục vụ người XK và một phần hàng phục người NK ở hai nước khác nhau. Thứ ba, trong TTQT, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp mà thay vào đó là các phương tiện thanh toán như hối phiếu, kỳ phiếu và séc.
Thứ tư, trong TTQT, ít nhất một trong hai bên có liên quan đến ngoại tệ. Do đó, hoạt động TTQT chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối quốc gia. Thứ năm, ngôn ngữ sử dụng trong TTQT chủ yếu bằng tiếng Anh. Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế; hoặc luật quốc gia của nước thứ ba; hoặc luật của nước người xuất hay nước người nhập do các bên thỏa thuận qua con đường trọng tài hay tòa án.
Vai trò của thanh toán quốc tế 1. Đối với nền kinh tế Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, các quốc gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập, trong bối cảnh đó, TTQT nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động TTQT ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển được. Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá-tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả. Về giác độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chất lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp.
Tóm lại, hoạt động TTQT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia; được thể hiện chủ yếu trên các mặt sau: 1. Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK của nền kinh tế như một tổng thể. Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. Thúc đẩy và mở rộng các hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế.
Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác. Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế. Đối với ngân hàng thương mại Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà XNK cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua NHTM với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ TTQT, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán.
Với vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện TTQT, khách hàng không đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự tài trợ của ngân hàng, NH sẽ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một cách chủ động và tích cực. Nhìn chung, ngân hàng là người cung cấp hoàn hảo các loại hình dịch vụ kỹ thuật và tài chính nhằm hỗ trợ cho các khách hàng thực hiện hoạt động TMQT. Ta thử hình dung, nếu không có hệ thống ngân hàng thương mại hiện đại như ngày nay, thì hoạt động thương mại quốc tế không những không phát triển mà còn rất khó tồn tại theo đúng nghĩa của nó.
Như vậy ngày nay hoạt động TMQT luôn cần đến sự tham gia, hỗ trợ về kỹ thuật nghiệp vụ và tài chính của ngân hàng. Ngân hàng cung cấp các phương án lựa chọn phương thức TTQT, tài trợ xuất nhập khẩu, đảm bảo an toàn và quyền lợi cho cả hai bên mua bán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới. Tóm lại, trong dây truyền hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia, hệ thống ngân hàng tham gia và đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các giai đoạn như: thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương… Thanh toán giữa các nước sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng và vai trò của ngân hàng trong TTQT chính là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời tài trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà XNK khi tham gia vào TMQT.
Người bán thì dễ dàng kiểm soát được hàng hóa thông qua các chứng từ vận tải, còn người mua theo dõi được dòng tiền của mình qua các phương thức thanh toán hai bên thỏa thuận. Các khâu thanh toán trong NH, nếu được thực hiện một cách nhanh chóng, an toàn, chính xác theo yêu cầu của các bên sẽ đem lại kết quả kinh doanh tốt và niềm tin của đối tác. Từ đó, ta thấy được tầm quan trọng không thể thiếu của các NH trong hoạt động ngoại thương. Thông qua các giao dịch ngoại thương, sự tiếp cận giữa các DN trên thế giới ngày càng đơn giản hơn trước.
DN có cơ hội học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt được xu hướng thị trường toàn cầu cũng như hiểu được đối tác nước ngoài của mình. Trên cơ sở đó, các DN sẽ có hướng điều chỉnh từ nguồn nhân lực, kế hoạch, chiến lược kinh doanh, cũng như đưa ra các biện pháp phòng tránh rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách tốt nhất. Một số phương thức thanh toán quốc tế 1. Phương thức chuyển tiền Khái niệm: Theo giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương (2021) của Nguyễn Văn Tiến “Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục phụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định.296] Đặc điểm: - Là phương thức thanh toán đơn giản: người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau.
- NH chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí và không bị ràng buộc trách nhiệm.