Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm HIV HIV (Human Immunodeficieny Virus) dùng để chỉ loại vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy hệ thống miễn dịch làm cho cơ thể con người mất khả năng chống lại các bệnh tật [3].
Khái niệm AIDS AIDS “Acquired immunodenficiency syndrom” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV, giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người nhiễm HIV dễ mắc nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dần dẫn đến tử vong cho người bệnh [3]. Phân loại giai đoạn nhiễm HIV/ AIDS Gồm 4 giai đoạn [1]: Lâm sàng giai đoạn 1: Không triệu chứng - Không có triệu chứng. - Bệnh lí hạch lympho toàn thân dai dẳng.
- Hoạt động mức độ 1: bình thường. Lâm sàng giai đoạn 2: Triệu chứng nhẹ - Sút cân dưới 10% trọng lượng cơ thể không rõ nguyên nhân. - Biểu hiện tại da và niêm mạc: viêm tiết bã nhờn, nấm họng, loét miệng tái diễn, viêm góc miệng,. - Zona (herpes zoster) trong vòng 5 năm trở lại đây.
- Nhiễm trùng đường hô hấp trên tái phát (viêm xoang, viêm amidan, viêm tai giữa,. download by : skknchat@gmail.com 4 - Hoạt động mức độ 2: Có biểu hiện triệu chứng nhưng vẫn hoạt động bình thường. Lâm sàng giai đoạn 3: Triệu chứng tiến triển - Sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể. - Tiêu chảy mạn tính không rõ nguyên nhân trên 1 tháng.
- Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân (liên tục hay không liên tục) trên 1 tháng. - Nhiễm nấm Candida albicans ở miệng, bạch sản dạng lông ở miệng,. - Lao phổi 1 năm gần đây. - Nhiễm vi khuẩn nặng: viêm phổi, viêm cơ mủ,.
- Hoạt động mức độ 3: Nằm liệt giường dưới 50% số ngày trong tháng trước đó. Lâm sàng giai đoạn 4: Triệu chứng nặng - Hội chứng suy mòn do HIV: sụt >10% trọng lượng cơ thể, cộng với tiêu chảy mạn tính không rõ nguyên nhân >1 tháng, hoặc mệt mỏi và sốt kéo dài không rõ căn nguyên >1 tháng. - Viêm phổi do Pneumocysti jiroveci. - Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.
- Nhiễm virus Herpes simplex ở da và niêm mạc >1 tháng hoặc ở nội tạng. - Viêm não chất trắng đa ổ tiến triển. - Bệnh nấm candida thực quản, khí quản, phế quản hoặc phổi. - Nhiễm khuẩn huyết do Salmonella không phải thương hàn.
- Bệnh lí não do HIV. - Hoạt động mức độ 4: Nằm liệt giường trên 50% số ngày trong tháng trước đó. download by : skknchat@gmail. Phân loại giai đoạn miễn dịch Giai đoạn miễn dịch của người nhiễm HIV được đánh giá theo số lượng tế bào T-CD4 [1]: Phân loại giai đoạn miễn dịch ở người lớn nhiễm HIV/AIDS Mức độ T-CD4 (TB/mm3) Bình thường hoặc suy giảm không đáng kể ≥ 500 Suy giảm nhẹ 350 – 499 Suy giảm tiến triển 200 – 349 Suy giảm nặng < 200 Ngoài ý nghĩa về phân loại giai đoạn miễn dịch của người nhiễm HIV/AIDS, số lượng tế bào T-CD4 còn có ý nghĩa trong việc đánh giá về đáp ứng miễn dịch và tuân thủ điều trị của bệnh nhân HIV/AIDS.
Tình hình nhiễm HIV trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới: Theo thống kê HIV/AIDS toàn cầu, vào năm 2017, trên toàn thế giới hiện đang có khoảng 36,9 triệu người đang sống chung với HIV. Trong đó vẫn có tới hơn 15 triệu người bệnh chưa được điều trị ARV. Ngoài ra, có tới khoảng 1,8 triệu người mắc mới HIV vào năm 2017.
Với con số này, đã có tới 940.000 người bệnh chết bởi những bệnh cơ hội do AIDS gây ra. Vậy, tích lũy đến nay, đã có 77,3 triệu người bị nhiễm và 35,4 người tử vong do HIV/AIDS từ khi dịch xuất hiện đến nay [50]. Tại Việt Nam Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam vào cuối tháng 12/1990. Theo thống kê của Cục phòng, chống HIV/AIDS, tính đến ngày download by : skknchat@gmail.com 6 30/6/2016, toàn quốc có 227.225 người nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, 85.753 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 89.210 người nhiễm HIV đã tử vong [5].
Riêng tại Thái Nguyên, theo thống kê cho thấy, tính đến ngày 31/8/2018, số người nhiễm HIV của tỉnh này là 9.843, trong đó, số chuyển giai đoạn AIDS là: 6. Số tử vong do HIV/AIDS là 3.450, số người còn sống là 6. Duy trì hoạt động của phòng khám ngoại trú, số bệnh nhân đang điều trị tính đến 31/7/2018 là 3. Nhìn chung, HIV/AIDS vẫn là một căn bệnh nguy hiểm và có những diễn biến mắc tương đối phức tạp.
Hậu quả và gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Long cho thấy, từ năm 2000 đến 2006, gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS tăng lên một cách đáng kể trên cả nước [33]. Đầu năm 2007, Luật phòng chống HIV/AIDS có hiệu lực, tạo điều kiện thiết lập và mở rộng các chương trình phòng chống HIV/AIDS, bao gồm các chương trình truyền thông, giảm tác hại và điều trị ARV. Điều này dẫn đến gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS giảm đi nhanh chóng từ 2006-2009 [33]. download by : skknchat@gmail.1: Sự thay đổi số tử vong hàng năm do AIDS trong quần thể người từ 15 tuổi trở lên tại Việt Nam giai đoạn 1990-2010 (Tác động của chương trình điều trị ARV) [8].
Kết quả tại biểu đồ trên cho thấy, số bệnh nhân ADIS tử vong hàng năm có xu hướng ngày càng tăng cao theo thời gian. Tuy nhiên, từ khi có mở rộng chương trình điều trị ARV, số trường hợp tử vong do AIDS giảm đáng kể do tác động từ chương trình này: các tính toán cho thấy trong vòng 10 năm kể từ 2001 đến 2010, đã có lũy tích 11.078 trường hợp tử vong do AIDS đã được ngăn chặn bởi điều trị ARV [8]. Theo báo cáo của Cục phòng chống HIV/ AIDS, đối tượng nhiễm HIV/AIDS tập trung chủ yếu vào nhóm nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm [2]. Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, HIV/AIDS vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và tử vong ở các bệnh nhân.
Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2015, số ca tử vong do HIV/AIDS là 2. Từ những thông tin trên có thể thấy, HIV/AIDS hiện đã, đang và sẽ là một gánh nặng đối với không chỉ người mắc bệnh mà còn với gia đình của họ, cộng đồng xã hội Việt Nam cũng như thế giới. Hiện nay bệnh vẫn chưa có phương pháp điều trị khỏi, do đó, giúp người dân chung sống an toàn với bệnh để giảm những ảnh hưởng, hậu quả gây ra là một việc làm rất cần thiết. Chất lượng cuộc sống 1.
Khái niệm về chất lượng cuộc sống Tổ chức y tế thế giới định nghĩa Chất lượng cuộc sống “là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ” [51]. CLCS bị ảnh hưởng bởi tình trạng thể download by : skknchat@gmail.com 8 chất, tâm lý, mức độ độc lập, mối quan hệ xã hội và mối quan hệ của họ với những đặc trưng của môi trường theo một cách thức phức tạp. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe Khái niệm CLCS liên quan đến sức khỏe (Health-related Quality of Life - HRQoL) đã được phát triển từ những năm 1980 để bao quát những khía cạnh về CLCS. Ở cấp độ cá nhân, HRQoL bao gồm nhận thức về sức khỏe thể chất và tâm thần (ví dụ, mức năng lượng, tâm trạng) và mối tương quan của chúng - bao gồm rủi ro và điều kiện sức khỏe, tình trạng chức năng, hỗ trợ xã hội và tình trạng kinh tế xã hội.
Ở cấp độ cộng đồng, HRQoL bao gồm các tài nguyên, điều kiện, chính sách và thực tiễn cấp cộng đồng ảnh hưởng đến nhận thức về sức khỏe của người dân và tình trạng chức năng. Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu khoa học và tư vấn từ các đối tác y tế công cộng, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ đã xác định HRQoL là “sức khỏe thể chất và tinh thần của một cá nhân hoặc nhóm theo thời gian” [19]. Độ thỏa dụng về sức khỏe Độ thỏa dụng về sức khỏe được đo lường dựa trên công cụ đo lường CLCS. Đo lường CLCS liên quan đến sức khỏe bằng các công cụ khác nhau nhưng các công cụ đó đưa ra chỉ số tổng hợp, có giá trị trong khoảng từ 0 đến 1 gọi là giá trị độ thỏa dụng về sức khỏe (Health Utility).
Giá trị độ thỏa dụng bằng 1 tương đương trạng thái sức khỏe hoàn hảo, độ thỏa dụng có giá trị bằng 0 tương đương trạng thái chết [36]. Ứng dụng của đo lường chất lượng cuộc sống trong điều trị và hoạch định chính sách Đo lường CLCS được ứng dụng trong quá trình đưa ra các quyết định điều trị và quá trình hoạch định chính sách. Trong quá trình điều trị, các bác sĩ thường căn cứ vào các đặc điểm cận lâm sàng và lâm sàng để đưa ra quyết định. Đơn giản nhất là đo nhịp tim, huyết download by : skknchat@gmail.com 9 áp, xét nghiệm máu và nước tiểu,… rồi đến những phân tích cận lâm sàng cấp cao hơn như điện tim, điện não, phân tích gene… Tuy nhiên các nhà thực hành lâm sàng gần như chưa gắn người bệnh với bối cảnh xã hội của họ, cũng như các vấn đề có thể ảnh hưởng đến tâm lý và thể chất của người bệnh.
Để đánh giá được các khía cạnh này, cần thiết phải đo lường CLCS của người bệnh, khi đó các nhà thực hành lâm sàng mới có thể điều trị theo hướng vì người bệnh chứ không phải chỉ điều trị hết căn bệnh. Đo lường CLCS có thể giúp xác định vấn đề ưu tiên, theo dõi các thay đổi trong việc đáp ứng với điều trị. Ngoài ra, CLCS còn giúp trong công tác quản trị bệnh viện. Đối với các nhà hoạch định chính sách, các thông tin liên quan các đo lường CLCS là rất cần thiết.
Hiệu quả của các can thiệp thông qua các chỉ số CLCS, cùng với chi phí của các can thiệp này là 2 cấu phần đầu vào quan trọng nhằm đánh giá được tính chi phí – hiệu quả của can thiệp. Từ đó các nhà hoạch định chính sách có thể cân nhắc giữa nhiều can thiệp khác nhau để phân bổ nguồn lực hợp lý.