CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CHUYÊN TRÁCH 1. Cán bộ và cán bộ công đoàn 1. Cán bộ Trong nhiều cuốn từ điển tiếng Việt, “cán bộ là người công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức” (Hồ Lê và cộng sự, 2010) hoặc “cán bộ: Người trong cơ quan Nhà nước - cán bộ Nhà nước; Người giữ chức vụ phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” (Nguyễn Như Ý, 1999). Các nhà từ điển học đã xác định cán bộ bao gồm người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan Nhà nước và người giữ một chức vụ trong một tổ chức xác định.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cán bộ chính là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” và luận điểm khái quát nhất của Người về vị trí, vai trò của cán bộ: “Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành, là trâu ngựa của CNVCLĐ” (Hồ Chí Minh, 2011). Theo Bác Hồ, cán bộ là những người có trách nhiệm phục vụ CNVCLĐ, phục vụ Đảng, Nhà nước chứ không phải là người đứng trên hoặc đứng ngoài CNVCLĐ. Họ có trách nhiệm truyền tải đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với CNVCLĐ để CNVCLĐ hiểu cho rõ và tổ chức, vận động CNVCLĐ thi hành.
Đồng thời, cán bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi CNVCLĐ, nắm được tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của CNVCLĐ phản ánh với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật vận động, phát triển của xã hội và đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng CNVCLĐ. Pháp luật hiện hành của Việt Nam - Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 nêu rõ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo quy định này thì Tiêu chuẩn xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các Tiêu chuẩn chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
10 Luan van Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được CNVCLĐ hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và CNVCLĐ. Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật tương ứng chuyên ngành điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các Tiêu chuẩn do Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể. Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án, Luật tổ chức Viện Kiểm sát, Luật tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan và do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể.
Qua các cách tiếp cận trên, cho thấy có hai cách hiểu về khái niệm cán bộ: - Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xác định và các lực lượng vũ trang từ trung ương đến địa phương và cơ sở. - Hai là, cán bộ là những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định hay người giữ chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức để phân biệt với người không có chức vụ. Với cách hiểu trên, có thể nhận thấy các đặc trưng cơ bản của cán bộ, đó là: (1) Người được bổ nhiệm giữ một chức vụ, chức danh trong một cơ quan, tổ chức; (2) Người được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. lấy danh nghĩa của cơ quan, tổ chức đó để hoạt động; (3) Người được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái quát: Cán bộ là người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cách hiểu này tương đồng với những nội dung quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, phù hợp với việc nghiên cứu đề tài liên quan đến lĩnh vực quản lý công. Cán bộ công đoàn Trong bài bài nói chuyện với các đồng chí lãnh đạo Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam, ngày 18 tháng 7 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và nhắn nhủ: CBCĐ trước hết phải là người hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, viên chức, phải hiểu chính sách của Đảng, phải hiểu về quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật. CBCĐ phải giỏi cả về chính trị, thạo về kinh tế thì mới lãnh đạo được đội ngũ công nhân ngày càng phát triển lại có trình độ cả về tư tưởng văn hoá, kĩ thuật.
CBCĐ phải tham gia lao động gần gũi công nhân, viên chức; phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần chúng, học tập kinh nghiệm của quần 11 Luan van chúng. thì mới làm tròn được nhiệm vụ của mình (trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, tr. Bên cạnh đó, Người cũng căn dặn CBCĐ phải là trung tâm của đoàn kết, phải có trách nhiệm cao, vì lợi ích giai cấp, vì lợi ích cách mạng: “Muốn giáo dục tốt công nhân, trước hết đội ngũ CBCĐ phải đoàn kết nhất trí. Phải kiên quyết xây dựng cho được sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống công đoàn" (trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, tr.
CBCĐ phải là tấm gương cho công nhân noi theo; phải thấy hết trách nhiệm trước CNVCLĐ, trước xã hội mà tự rèn luyện nâng cao ý chí cách mạng tiến công và tinh thần trách nhiệm. CBCĐ phải như thế mới có thể xây dựng được một đội ngũ công nhân có giác ngộ cao, có lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội nồng nàn, có tinh thần làm chủ tập thể, thực sự có trình độ văn hoá và khoa học kỹ thuật. Nội dung này cũng tương đồng với quan điểm của Lênin: “Công đoàn, nói chung, là trường học chủ nghĩa cộng sản, thì nói riêng phải là trường học quản lý công nghiệp xã hội chủ nghĩa (rồi dần dần quản lý nông nghiệp) cho tất cả quần chúng công nhân, rồi cho tất cả những NLĐ ” (V.Lênin, 1978, tập 44, tr. 423) Thực tiễn quản lý ở Việt Nam, Điều lệ Công đoàn và một số văn bản của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quy định khá rõ về CBCĐ: “CBCĐ là người đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp có thẩm quyền chỉ định, công nhận, tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh CBCĐ hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn” (Điều lệ Công đoàn Việt Nam, 2020) và “CBCĐ bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, uỷ viên ban chấp hành công đoàn các cấp, uỷ viên uỷ ban kiểm tra công đoàn các cấp, thành viên các ban quần chúng của công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định.
Cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong tổ chức bộ máy công đoàn các cấp” (Điều lệ Công đoàn Việt Nam, 2020), bao gồm CBCĐCT và CBCĐ không chuyên trách. Trong phạm vi đề tài luận văn, học viên ủng hộ cách tiếp cận và sử dụng quy định của Điều lệ Công đoàn làm khái niệm công cụ khi nghiên cứu về CBCĐ. Từ khái niệm trên có thể thấy CBCĐ có một số đặc trưng khác với cán bộ Đảng, cán bộ của các cấp chính quyền, cán bộ của các đoàn thể khác. Thứ nhất, CBCĐ là đoàn viên công đoàn.
Thứ hai, CBCĐ là người được lựa chọn thông qua bầu cử hoặc được tuyển chọn, bổ nhiệm giao thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nào đó trong tổ chức công đoàn, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn. Thứ ba, CBCĐ là cán bộ quần chúng, tức là cán bộ trực tiếp làm công tác vận động, tổ chức quần chúng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, viên chức, lao động. Đặc trưng này phân biệt CBCĐ với cán bộ Đảng, Nhà nước và cán bộ quần chúng khác. Thứ tư, CBCĐ trưởng thành từ phong trào quần chúng và được quần chúng tín nhiệm, lựa chọn thông 12 Luan van qua bầu cử, nên đội ngũ CBCĐ đều là những cán bộ nhiệt tình trong công tác công đoàn, có kinh nghiệm vận động, tổ chức hoạt động quần chúng hoạt động và có uy tín đối với công nhân, viên chức, lao động.
Cán bộ công đoàn chuyên trách 1. Khái niệm Điều 4 Luật Công đoàn năm 2012 quy định: “CBCĐCT là người được tuyển dụng, bổ nhiệm để đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn, được đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc được cấp có thẩm quyền của công đoàn bổ nhiệm, chỉ định” [4].