ĐẶT VẤN ĐỀ Các khối u vùng đầu tụy là các khối u xuất phát từ biểu mô của đầu tụy, đoạn thấp ống mật chủ nằm trong tuỵ, bóng Vater và tá tràng quanh bóng Vater [1],[2]. Tại Hoa Kỳ, hàng năm có trên 30.000 bệnh nhân tử vong do u vùng đầu tuỵ [3]. Do giải phẫu vùng đầu tụy liên quan đến đường mật nên biểu hiện lâm sàng của u vùng đầu tụy thường có tắc mật, bệnh nhân đến viện vì vàng da, vàng mắt, ngoài ra có thấy các dấu hiệu như đau tức hạ sườn phải, ngứa, kém ăn,… Chẩn đoán sớm nhóm bệnh này thường khó khăn vì khi đã có biểu hiện lâm sàng thường bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn: chỉ 10-15% bệnh nhân đến viện còn chỉ định phẫu thuật [1],[2]. Trong vài thập niên gần đây có nhiều phương tiện chẩn đoán u vùng đầu tụy nói riêng như: các chất đánh dấu chỉ điểm khối u, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp siêu âm, siêu âm nội soi, nội soi dạ dày tá tràng, chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, chụp PET/CT,… đã góp phần phát hiện sớm các bệnh lý vùng đầu tụy.
Tuy nhiên, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Siêu âm là phương pháp thông dụng, đơn giản, dễ tiến hành nhưng đối với các khối u vùng đầu tụy thì chẩn đoán có nhiều hạn chế do hơi của các quai ruột, khó khăn thăm khám các khối u kích thước nhỏ, khu trú. Chụp cộng hưởng từ tuy có độ đặc hiệu và độ chính xác cao trong phát hiện và đánh giá tại chỗ u, nhưng không giúp đánh giá toàn diện giai đoạn bệnh và khả năng phẫu thuật của u [4]. Chụp CLVT là phương pháp ngày càng được áp dụng phổ biến và rộng rãi trong chẩn đoán bệnh lý u vùng đầu tụy.
Chụp CLVT đa dãy đầu thu với các ưu điểm như tái tạo đa mặt phẳng với bề dày lát cắt mỏng, độ phân giải cao, đặc biệt máy chụp CLVT 320 dãy có tốc độ vòng quay nhanh và 2 khoảng che phủ rộng, đã khắc phục một số nhược điểm của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Chụp CLVT đa dãy có khả năng chẩn đoán các khối u nhỏ, kích thước dưới 2 cm, có độ nhạy 94%, độ đặc hiệu 50%, giá trị dự đoán dương tính 82% cho các khối u lành hay ác tính. Ngoài khả năng chẩn đoán vị trí, kích thước khối u còn đánh giá tình trạng xâm lấn hạch, mạch máu, di căn gan, tụy, phúc mạc, phân loại giai đoạn bệnh, dự kiến phương pháp điều trị,… [5],[6]. Các nghiên cứu trước đây về bệnh lý u vùng đầu tuỵ trên thế giới và Việt Nam vẫn còn một số khó khăn cần giải quyết.
Đó là tỉ lệ phát hiện bệnh và tỉ lệ đánh giá chính xác xâm lấn mạch máu chưa cao, số trường hợp phát hiện ở giai đoạn sớm hoặc chưa được đánh giá chính xác giai đoạn bệnh và khả năng phẫu thuật còn nhiều,… [7-13]. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, để góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị u vùng đầu tuỵ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu vai trò của chụp cắt lớp vi tính đa dãy trong chẩn đoán u vùng đầu tụy” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính 320 dãy u vùng đầu tụy. Xác định giá trị của chụp cắt lớp vi tính 320 dãy trong chẩn đoán giai đoạn bệnh và tiên lượng khả năng phẫu thuật u vùng đầu tụy.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. SƠ LƢỢC ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU KHỐI TÁ TỤY 1. Giải phẫu khối tá tụy 1. Giải phẫu tá tràng Tá tràng là phần đầu của ruột non dài khoảng 25 cm, đường kính 3 - 4 cm, đi từ môn vị (ngang sườn phải đốt sống thắt lưng thứ nhất) tới góc tá - hỗng tràng ở ngang sườn trái đốt thắt lưng II.
Tá tràng đặc biệt quan trọng vì là nơi ống mật và ống tụy đổ vào [14]. Tá tràng uốn cong hình chữ C hướng sang trái và ôm quanh đầu tụy. Nó đi theo một con đường gấp khúc gồm bốn phần trên, xuống, ngang và lên. Tá tràng nằm sau phúc mạc và cố định, trừ bóng tá tràng.
Hình thể tá tràng Nguồn: Netter.H [15] 4 Niêm mạc trên mặt sau trong của phần xuống có hai nhú lồi: nhú tá tràng lớn và nhú tá tràng bé ở trên nhú tá tràng lớn khoảng 3 cm. Ống mật chủ và ống tụy đổ vào tá tràng tại đỉnh nhú tá tràng lớn, ống tụy phụ đổ vào đỉnh nhú tá tràng bé. Tá tràng và đầu tụy có chung liên quan và mạch nuôi. Giải phẫu tụy Tụy vừa là một tuyến ngoại tiết của hệ tiêu hóa, vừa là một tuyến nội tiết [14].
Tụy là một cơ quan mềm, hình thon dài từ 12 đến 15 cm, cao 6 cm, dày 3 cm, nặng khoảng 80 gam. Từ phần xuống của tá tràng, tụy đi chếch lên trên và sang trái tới cuống lách, vắt ngang trước thân các đốt sống thắt lưng trên. Với hình dáng như một cái búa, tụy có ba phần từ phải sang trái và đầu, thân và đuôi; giữa đầu và thân có khuyết tụy. Đầu tụy là một khối gần có hình vuông mà phần dưới tách ra một mỏm gọi là mỏm móc.
Đầu được phần cố định của tá tràng vây quanh và gắn với phần này thành một khối có những liên quan chung. Mặt sau của khối không có phúc mạc bóc và dính với nửa trong mặt trước thận phải, tuyến thượng thận phải, cuống thận phải và tĩnh mạch chủ dưới; ống mật chủ đào thành một rãnh ở mặt sau đầu tụy. Mặt trước có phúc mạc phủ và bị rễ của mạc treo đại tràng ngang bắt chéo theo chiều ngang. Phần trên chỗ bắt chéo bị gan, môn vị và túi mật trùm lên; phần dưới tiếp xúc với các quai ruột non.
Hình ảnh khối tá tuỵ Nguồn: Windsor J. Hệ thống ống tuyến của tụy a) Ống tụy chính Ống tụy chính đi ngang qua suốt chiều dài đuôi và thân tụy rồi cùng ống mật chủ đổ vào phần xuống tá tràng tại một lỗ ở đỉnh nhú tá tràng lớn. Ống tụy chính dài khoảng 18 - 30 cm, lớn nhất ở đầu tụy (3 - 4 mm) và nhỏ dần về phía đuôi tụy [14]. Thường thì ống mật chủ hợp với ống tụy thành một đoạn ống chung ngắn trước khi đổ vào tá tràng và đoạn này thường phình ra tạo nên bóng gan tụy (bóng Vater).
Các thớ cơ vòng ở quanh đầu đổ vào tá tràng của bóng tạo nên cơ thắt bóng gan tụy (cơ Oddi). Các ống tụy chính và phụ Nguồn: Netter.H [15] b) Ống tụy phụ Ống tụy phụ dẫn dịch của đầu tụy, nó xuất phát từ ống tụy ở nơi mà ống tụy bắt đầu thay đổi hướng đi và chạy thẳng sang phải đổ vào phần xuống tá tràng ở đỉnh nhú tá bé. Mối liên quan của ống tụy chính, ống mật chủ và ống tụy phụ như sau: - Không có sự kết nối giữa ống tụy chính và ống tụy phụ (10%). - Không có nhú tá bé (30%).
- Có nhú tá bé nhưng phần xa của ống tụy phụ thì quá nhỏ để cho dịch tụy có thể đi qua (hiếm gặp). c) Bóng Vater Thuật ngữ “bóng Vater” mang tên của nhà giải phẫu học người Đức Abraham Vater được mô tả lần đầu tiên năm 1720 là nơi phình ra tại chỗ hợp lưu của ống mật chủ và ống tụy chính. Theo Michels bóng Vater được chia thành 3 loại. Loại I: ống tụy chính hợp với ống mật chủ để tạo thành Vater 7 trước khi đổ vào tá tràng tại nhú tá lớn (85%), loại II: ống tụy chính và ống mật chủ đổ vào tá tràng qua 2 vị trí riêng rẽ trên nhú tá lớn (5%), loại III: ống tụy chính và ống mật chủ đổ vào tá tràng qua 2 vị trí không nằm trên nhú tá lớn (9%) [14].
Những dạng hợp nhất của các ống tụy và mật Nguồn: Netter. Hệ thống mạch máu nuôi dưỡng khối tá tụy a) Động mạch Tụy được cung cấp máu nuôi dưỡng bằng hai nguồn chính đó là động mạch thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên [14],[17]. *Các động mạch cung cấp máu vùng đầu tụy - tá tràng - Động mạch vị tá tràng: Là nhánh của động mạch gan chung xuất phát từ động mạch thân tạng, khi đến bờ trên, mặt sau phần trên tá tràng thì cho ra nhánh tá tụy trên sau, tiếp tục đi đến bờ dưới phần trên tá tràng thì chia ra hai ngành cùng là động mạch vị mạc nối phải và động mạch tá tụy trước trên. - Động mạch mạc treo tràng trên: đi ra phía sau eo tụy và cho ra động mạch tá tụy dưới, động mạch này chia thành 2 nhánh tá tụy trước dưới và tá tụy sau dưới.
Động mạch tá tụy trên và động mạch tá tụy dưới nối với nhau trong nhu mô ở mặt trước và mặt sau của đầu tụy đi theo cung tá tràng hình 8 thành nên nhiều cung mạch đi vào đầu tụy và tá tàng. Vì vậy không thể cắt bỏ đầu tụy - tá tràng ngoài cung mạch này. Động mạch tá tụy trước trên là nguồn cung cấp máu chính cho mặt trước của vùng đầu tụy còn động mạch tá tụy sau trên cung cấp máu cho mặt sau vùng đầu tụy [14]. Các động mạch cung cấp máu cho tụy và tá tràng Nguồn: Netter.H [15] b) Tĩnh mạch Tĩnh mạch khối tá tụy thu nhận máu rồi đưa về tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
Bốn tĩnh mạch vùng đầu tụy tá tràng là: tĩnh mạch tá tụy trước trên nối với tĩnh mạch vị mạc nối phải, tĩnh mạch tá tụy sau trên đổ vào tĩnh mạch cửa ở bờ trên của tụy, tĩnh mạch tá tụy sau dưới và trước dưới cùng đổ vào tĩnh mạch mạc tren tràng trên bởi một thân chung 9 hoặc hai thân riêng rẽ. Thân chung của tĩnh mạch đại tràng phải trên và tĩnh mạch vị mạc nối phải (60%) gọi là thân Henle có tĩnh mạch tá tụy trước trên đổ vào [14]. Các tĩnh mạch của tụy và tá tràng Nguồn: Netter. Hệ thống bạch huyết của tụy Bạch huyết của tụy được hình thành bên trong khoảng kẽ các tế bào tụy ngoại tiết.
Bạch huyết phần trên có liên kết chặt chẽ với động mạch và tĩnh mạch lách rồi chạy dọc bờ trên của tụy, phần đuôi và bên trái của tụy đổ vào rốn lách, trong khi đó bên phải của thân và eo tụy thì đổ vào những hạch gần bờ trên của đầu tụy. Mặt trước và mặt sau nửa trên của tụy được đổ vào các hạch ở phía trên.