Khóa luận: Nghiên cứu cây thuốc của người H'mông tại Mù Cang Chải, Yên Bái

Khóa luận nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của người H'mông tại Mù Cang Chải. Tổng hợp danh mục loài, công dụng chữa bệnh và các giải pháp bảo tồn.

Chuyên ngành

Sinh Thái Bảo Tồn

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2019

58
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới

2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1. Địa lý tự nhiên

2.3.2. Địa hình địa thế

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Tiêu chí chọn xã

3.4.2. Phương pháp điều tra thực địa

3.4.3. Phương pháp định danh tên cây

3.4.4. Phương pháp thu thập mẫu

3.4.5. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc

3.4.6. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc

4.1.1. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc

4.1.2. Đa dạng về môi trường sống của cây thuốc

4.1.3. Đa dạng về bộ phận sử dụng của nguồn cây thuốc

4.1.4. Đa dạng về cách chế biến cây thuốc

4.1.5. Đa dạng về công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc

4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn

4.3. Hiện trạng khai thác cây thuốc

4.4. Giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc

4.4.1. Giải pháp bảo tồn

4.4.2. Phát triển tài nguyên cây thuốc

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tài nguyên cây thuốc của người H mông tại Mù Cang Chải

Mù Cang Chải, huyện nằm ở tỉnh Yên Bái, là một vùng đất phong phú với đa dạng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc H'mông. Nghiên cứu khoa học về cây thuốc người H'mông đã phát hiện hơn 100 loài cây được sử dụng trong điều trị bệnh theo truyền thống. Những loài cây thuốc này phân bố trong các sinh cảnh khác nhau từ rừng tự nhiên đến vườn nhà, thể hiện sự thích nghi cao với điều kiện địa hình và khí hậu vùng núi Tây Bắc. Tri thức truyền thống về cây thuốc dân gian của người H'mông được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành một kho tàng giá trị về công dụng chữa bệnh. Việc nghiên cứu và ghi chép lại tài nguyên cây thuốc không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần phát triển công nghiệp dược phẩm hiện đại.

1.1. Đặc điểm địa lý và môi trường sống của cây thuốc

Huyện Mù Cang Chải có địa hình phức tạp với rất nhiều thung lũng, sườn núi dốc. Môi trường sống của cây thuốc rất đa dạng, từ vùng đất ẩm ướt đến khu vực khô thoáng. Đặc biệt, các loài cây thuốc mọc tự nhiên tập trung ở những khu rừng nguyên sinh với độ che phủ cao, nơi có điều kiện ánh sáng yếu và độ ẩm cao. Các loài cây được trồng trong vườn nhà thích hợp với khí hậu ôn hòa, có mưa thường xuyên quanh năm.

1.2. Dạng sống và phân bố của các loài cây thuốc

Cây thuốc ở Mù Cang Chải bao gồm nhiều dạng sống khác nhau: cây gỗ, cây bụi, cây thảo mộc, và dây leo. Phần lớn loài cây thuốc được sử dụng là những loài thảo mộc chiếm khoảng 60% tổng số loài, sau đó là các cây bụi và cây gỗ. Sự đa dạng này giúp cộng đồng H'mông có nhiều lựa chọn nguyên liệu cho nhu cầu chữa bệnh hàng ngày.

II. Tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc truyền thống

Tri thức sử dụng cây thuốc của người H'mông là kết quả của hàng ngàn năm thực hành và quan sát thiên nhiên. Mỗi loài cây thuốc được sử dụng có những công dụng chữa bệnh cụ thể, từ những bệnh về tiêu hóa, hô hấp đến các vấn đề về cơ xương khớp. Kinh nghiệm này được truyền dạy từ ông bà sang cha mẹ, rồi đến các thế hệ trẻ. Người H'mông biết chính xác bộ phận cây thuốc nào cần sử dụng, thời điểm thu hoạch tốt nhất, cách chế biến phù hợp với từng loại bệnh. Việc ghi chép và nghiên cứu khoa học về kinh nghiệm truyền thống này giúp xác thực giá trị và phát triển ứng dụng trong y tế hiện đại.

2.1. Bộ phận cây thuốc được sử dụng

Người H'mông sử dụng các bộ phận khác nhau của cây thuốc: lá, thân, rễ, hạt, hoa và vỏ cây. Lá chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 45%), vì dễ thu hoạch và chứa nhiều hoạt chất. Rễ được sử dụng cho 25% loài cây thuốc, đặc biệt trong những bài thuốc điều trị bệnh mạn tính. Cách lựa chọn bộ phận này phụ thuộc vào bệnh cần chữa và kinh nghiệm của người dùng.

2.2. Phương pháp chế biến và sử dụng

Cây thuốc được chế biến theo nhiều cách: nấu canh, ngâm rượu, sấy khô, nướng hay xé nhỏ uống trực tiếp. Mỗi phương pháp chế biến được chọn dựa trên loại bệnh và tính chất của cây. Người H'mông thường nấu canh với các loại rau rừng khác, hoặc ngâm rượu để tăng tính hiệu quả. Kiến thức này phản ánh sự hiểu biết sâu sắc về công dụng cây thuốc và cách tối ưu hóa lợi ích chữa bệnh.

III. Đa dạng công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc

Các loài cây thuốc mà người H'mông sử dụng tại Mù Cang Chải có công dụng chữa bệnh rất phong phú. Thống kê từ nghiên cứu cho thấy cây thuốc được chia thành các nhóm bệnh chính: bệnh tiêu hóa, bệnh hô hấp, bệnh viêm nhiễm, bệnh về xương khớp, và bệnh phụ khoa. Đa dạng công dụng này cho thấy sự thích nghi lâu dài giữa con người và thiên nhiên. Một số loài cây thuốc có khả năng chữa nhiều bệnh, được xem là những loài cây có giá trị cao nhất. Ví dụ, một số cây như sâm, cam thảo, mạch môn được sử dụng rộng rãi trong nhiều bài thuốc khác nhau. Hiểu rõ công dụng này là nền tảng để bảo tồn và phát triển bền vững.

3.1. Các nhóm bệnh chính được chữa bằng cây thuốc

Bệnh tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất, với khoảng 35% loài cây thuốc được sử dụng. Bệnh hô hấp như ho, sốt được chữa bằng 25% loài. Bệnh viêm nhiễm và đau mỏi xương khớp chiếm 20% và 15% tương ứng. Công dụng chữa bệnh này được xác nhận qua kinh nghiệm lâu năm của cộng đồng, và một số đã được xác thực thông qua các nghiên cứu khoa học hiện đại.

3.2. Các loài cây thuốc có công dụng đa diện

Một số cây thuốc có tính đa công dụng, có thể chữa được nhiều loại bệnh khác nhau. Những loài cây này thường được sử dụng phổ biến nhất trong cộng đồng H'mông. Chúng chứa nhiều hoạt chất sinh học như alkaloid, phenol, và terpene, giúp tăng cường hệ miễn dịch và chống viêm. Việc tập trung bảo tồn những loài cây này là ưu tiên hàng đầu.

IV. Bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc

Bảo tồn tài nguyên cây thuốc là một thách thức lớn khi sự khai thác không kiểm soát và biến đổi môi trường đe dọa nhiều loài cây thuốc hiếm có. Huyện Mù Cang Chải cần xây dựng các chiến lược bảo tồn bao gồm thiết lập các khu bảo tồn cộng đồng, trồng cây dược liệu trong vườn nhà, và hạn chế khai thác quá mức. Đồng thời, việc ghi chép chi tiết về tri thức sử dụng cây thuốc giúp ngăn chặn mất mát di sản văn hóa. Phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc không chỉ giúp bảo vệ thiên nhiên mà còn tạo thu nhập cho cộng đồng địa phương thông qua du lịch sinh thái và sản xuất dược phẩm.

4.1. Các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn

Danh sách những loài cây thuốc cần bảo tồn bao gồm các loài hiếm, loài bị khai thác quá mức, và loài có giá trị kinh tế-y tế cao. Các loài cây này cần được đưa vào sách đỏ và được bảo vệ bởi pháp luật. Cộng đồng H'mông cần được trao quyền quản lý nguồn tài nguyên này, vì họ là những người hiểu rõ nhất về bảo tồn và sử dụng bền vững.

4.2. Giải pháp phát triển bền vững

Phát triển bền vững có thể thông qua trồng cây dược liệu theo mô hình nông lâm kết hợp, xây dựng vườn thuốc cộng đồng, và đào tạo nhân lực chuyên ngành. Liên kết với các doanh nghiệp dược phẩm để tiêu thụ sản phẩm giúp tăng giá trị kinh tế. Ngoài ra, phát triển du lịch sinh thái và khoa học góp phần quảng bá kiến thức cây thuốc H'mông ra thế giới, vừa bảo vệ môi trường vừa nâng cao thu nhập cho người dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Khóa luận nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người hmông tại 2 xã chế cu nha và xã chế tạo huyện mù cang chải tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa châu Á nóng và ẩm, Việt Nam có nền khí hậu đa dạng, thay đổi từ điều kiện nhiệt đới khó điển hình ở những vùng thấp phía nam đến khí hậu mang tính chất á nhiệt đới núi cao ở các tỉnh phía Bắc và các vùng núi cao trên 1000m. Những đặc điểm của điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên ở Việt Nam tính đa dạng sinh học rất cao với nguồn tài nguyên động, thực vật vô cùng phong phú. Riêng về hệ thực vật, theo ước tính của nhà khoa học trong nước Việt Nam có khoảng 12000 loài thực vật bậc cao có mạch, 600 loài nấm, 800 loàirêu và hàng trăm loài tảo lớn.

Trong số này, mới có 10.500 loài được mô tả (1996) riêng nhóm thực vật bậc cao có mạch đã có tới 10. Thống kê về các nhóm cây cho biết có 749 loài cho gỗ và củi, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây, 600 loài có tannin, 260 loài cho dầu béo, 160 loài cho tinh dầu, 70 loài cho nhựa thơm và vài trăm loài khác là nhóm cây lương thực, thực phẩm. Riêng cây thuốc, theo kết quả 20 năm điều tra của viện Dược liệu công bố năm 1985, ở Việt Nam có 1.863 loài phân bố trong 1.033 chi, 236 họ của 11 ngành thực vật. Con số này đến nay đã được Viện Dược liệu bổ sung lên hơn 2.

Võ Văn Chi (1997) đã tập hợp trong bộ từ điển cây thuốc của mình tới 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc ở Việt Nam. Như vậy, mặc dù thống kê chưa đầy đủ, song cũng có cơ sở để khẳng định rằng cây làm thuốc chiếm tỉ lệ rất cao so với các nhóm cây có ích khác trong nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam. Tính phong phú này còn thể hiện rõ nét ở sự phân bố rộng rãi của cây thuốc. Cây làm thuốc chính là những loài cây cỏ thường thấy trong vườn nhà, quanh nơi ở cũng nhưng trên các quần thể thực vật hoang dã ở đồi núi, đồng cỏ và đặc biệt trong các quần 2 thể rừng từ ngàn xưa, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã biết sử dụng nguồn cây cỏ có sẵn để làm thuốc phòng, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nền y học dân tộc đã hình thành và phát triển thành một nên y học thành văn với kinh nghiệm dùng cây thuốc trong nhân dân ngày càng phong phú. Ngày nay, trên thế giới đang có xu thế quan tâm trở lại với việc dùng các thuốc từ thảo mộc và hợp chất thiên nhiên để phòng chữa bệnh. Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhu cầu dùng thuốc cổ truyền, thuốc từ thảo mộc cũng ngày càng tăng. Người H’mông là một dân tộc có dân số tương đối đông Ở Việt Nam, người H’mông có tính đến năm 01/04/2009 là 1.2443% so với dân số Việt Nam[18].

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc H’mông là một trong những dân tộc ít bị mai một hơn về bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay, để phát triển mà không bị hoà tan, mất bản sắc, thì việc bảo tồn văn hoá dân tộc đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, tâm huyết, bền bỉ, lâu dài. Có như thế những giá trị văn hoá sẽ mãi mãi được gìn giữ và phát huy. Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh việc khai thác và phát triển nguồn dược liệu trong nước là việc làm cần thiết.

Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Chế Cu Nha và xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, trong đó có dân tộc H'mông họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quýbáu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc H'mông. Xuấtphát từ những yêu cầu thực tế trên nghiên cứu " Nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người H'mông tại huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái" là rất cần thiết. Mục tiêu - Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc người H'mông tại xã Chế Cu Nha và xã Chế Tạo của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái 3 - Xác định xem người H'mông họ sử dụng các loài cây thuốc gì để chữa những bệnh gồm nhiều loài hai một loài - Xác định xem họ sử những bộ phận nào của cây, thành phần nào của cây dùng cho các bài thuốc chữa bệnh của họ.

- Xác định được mức độ đa dạng của cây dược liệu có ở địa phương nghiên cứu - Xác định nơi sống của loài cây dược liệu là trên địa hình thấp hay là cao - Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện có ở khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa về mặt khoa học - Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng các dân tộc tại xã Chế Cu Nha, xã Chế Tạo của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái - Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của cộng đồng các dân tộc xã trong khu vực huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái - Qua việc điều tra có thểthấy được tầm quan trọng của cây thuốc từ đó có thể nhân giống và bảo tồn các loài cây dược liệu quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng - Những kết quả của đề tài là cơ sở để phát triển các ngành khoa học về giống cây rừng, giống cây trồng, công nghệ sau thu hoạch, dược liệu 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.

Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới: Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực khác nhau như: “Nghiên cứu việc sử dụng truyền thống cây thuốc giữa các cộng đồng của vùng Chhota Bhangal, phía Tây dãy Hymalaya”, theo nghiên cứu của nhóm tác giả Sanjay Kr Uniyal, KN Singh, Pankaj Jamwal, Brij Lal năm 2006, đã tìm thấy 35 loài thực vật thường được người dân địa phương sử dụng trong việc chữa các bệnh khác nhau [23]. “Việc sử dụng cây thuốc của các thầy lang ở Kancheepuram quận Tamil Nadu, Ấn Độ”, của nhóm tác giả Chellaiah Muthu, Muniappan Ayyanar, Nagappan Raja, Savarimuthu Ignacimuthu năm 2006, đã tìm thấy 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau, các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa các bệnh về da, rắn độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh [21]. “Cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm dân tộc Yi, ở trung tâm Vân Nam, Trung Quốc”, của các tác giả Chunlin Long, Sumei Li, Bo Long, Yana Shi, Benxi Liu năm 2009, đã tìm thấy 116 loài cây thuốc thuộc 58 chi được người dân địa phương sử dụng trong việc điều trị các bệnh hoặc rối loạn khác nhau, đặc biệt là những bệnh liên quan đến chấn thương, rối loạn tiêu hóa và cảm lạnh thông thường [18]. “Cây thuốc được sử dụng bởi người Tây Tạng ở Shangri-la, Vân Nam, Trung Quốc”, các tác giả Yanchun Liu, Zhiling Dao, Chunyan Yang, Yitao Liu, Chunlin Dai năm 2009, đã ghi nhận và thu thập 68 5 loài cây thuốc trong 64 chi thuộc 40 họ được người Tây Tạng sử dụng để chữa các bệnh khác nhau [24].

Harsha và cs. Kết quả cho thấy có 45 loài cây thuộc 26 họ được cộng đồng người Kunabis sử dụng làm thuốc. Các loài được sử dụng để chữa trị một số bệnh như sốt, ho, bệnh ngoài da, thấp khớp, rắn cắn, bệnh vàng da, kiết lỵ,. Parinitha và cs.

Kết quả cho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9 bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm. Mười hai tuyên bố mới về kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có trong văn học. Muthu và cs. Kết quả cho thấy, những thầy lang sử dụng 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau.

Các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa trị các bệnh về da, rắn độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh. Uniyal và cs. Kết quả cho thấy, có 35 loài thực vật thường được sử dụng bởi người dân địa phương trong việc chữa các bệnh khác nhau. Có đến 45% loài cây, người dân đã sử dụng phần dưới đất để làm thuốc.

Sajem và Gosai (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của tộc người Jaintia ở Ấn độ [32]. Kết quả cho thấy cộng đồng sử dụng 39 loài thuộc 27 họ và 35 chi. Để trị nhiều loại bệnh, việc sử dụng các bộ phận của cây trên mặt đất chiếm tỷ lệ cao hơn (76,59%) so với các bộ phận dưới mặt đất (23,41%). Lá đã được sử dụng trong đa số các trường hợp (23 loài), 6 tiếp theo là quả (4 loài).

Tổng cộng có 30 loại bệnh đã được báo cáo được chữa khỏi bằng cách sử dụng 39 loài cây thuốc. Koushalya Nandan Singh (2013) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn độ [29]. Kết quả ghi nhận có 86 loài thực vật thuộc 69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác nhau. Các loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu thuộc về các họ Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae.

Hầu hết các loại thuốc được sử dụng dưới dạng bột, một số là nước ép trái cây và dịch triết. Trong số các bộ phận của cây, lá đã được ghi nhận được sử dụng phổ biến, tiếp theo là hoa. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ