Điều tra tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu ở xã Lăng, Tây Giang

Khám phá tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu ở Tây Giang, Quảng Nam. Luận văn thống kê danh mục, công dụng và các bài thuốc dân gian độc đáo.

Chuyên ngành

Dược Sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

118
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tài Nguyên Cây Thuốc Truyền Thống Của Người Cơ Tu

Người Cơ Tu ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam sở hữu một kho tài sản y học truyền thống vô cùng quý giá. Qua hàng thế kỷ, cộng đồng dân tộc này đã tích lũy những kiến thức sâu sắc về cây thuốc địa phương, sử dụng chúng để chữa trị các bệnh thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu điều tra tài nguyên cây thuốc tại địa bàn này không chỉ giúp bảo tồn tri thức cổ truyền quý báu mà còn mở ra cơ hội phát triển các sản phẩm dược phẩm mới. Sự đa dạng sinh học của vùng núi Tây Giang tạo điều kiện thuận lợi để các loài thực vật dược liệu phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của cộng đồng địa phương.

1.1. Đa Dạng Các Loài Cây Thuốc

Xã Lăng chứa đựng một bộ sưu tập cây thuốc đồ sộ với hàng trăm loài thực vật dược liệu. Những cây này được phân bố trên các thảm thực vật khác nhau từ khu vực rừng ngập nước đến rừng khô cạn. Người Cơ Tu sử dụng các bộ phận khác nhau của cây như lá, gốc, vỏ cây để chế biến thuốc, phản ánh sự am hiểu sâu sắc về tính chất và công dụng của từng loài.

1.2. Giá Trị Quí Hiếm Và Bảo Tồn

Trong số các cây thuốc được ghi nhận, nhiều loài thuộc danh mục cây quí hiếm cần bảo vệ. Các loài này đang bị đe dọa do khai thác quá mức và tác động của môi trường. Việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc không chỉ là trách nhiệm sinh thái mà còn là yêu cầu cấp thiết để giữ gìn di sản y học truyền thống của dân tộc Cơ Tu.

II. Tri Thức Sử Dụng Cây Thuốc Trong Điều Trị Bệnh

Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người Cơ Tu được hình thành thông qua quá trình thử nghiệm dài hạn và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi loài cây được sử dụng để chữa trị các bệnh cụ thể, từ bệnh nhiễm trùng, viêm, đau nhức cho đến các bệnh tiêu hóa và hô hấp. Người dân sử dụng cách chế biến đa dạng như nấu nước lã, ngâm rượu, nghiền thành bột hoặc xắt khô để ăn. Hệ số tin cậy của các bài thuốc truyền thống này đã được xác thực qua thực hành lâu năm, mặc dù cần có những nghiên cứu khoa học hiện đại để đánh giá hiệu quả một cách chính xác.

2.1. Bộ Phận Cây Được Sử Dụng

Người Cơ Tu tận dụng toàn bộ các bộ phận của cây thuốc bao gồm lá, gốc, vỏ, hoa, quả và hạt. Mỗi bộ phận chứa các hợp chất hoạt tính khác nhau, vì vậy cách sử dụng cũng khác biệt tùy thuộc vào bệnh cần chữa. Sự linh hoạt này cho thấy kiến thức phong phú về botanika và dược lý của cộng đồng này.

2.2. Phương Pháp Chế Biến Thuốc

Các phương pháp chế biến truyền thống bao gồm nấu nước lã, ngâm rượu, xắt khô, nghiền thành bột và các kỹ thuật khác. Những phương pháp này đã được kiểm chứng qua thời gian, giúp tối ưu hóa hàm lượng hoạt chất của cây thuốc. Việc truyền lại những kỹ thuật này cho thế hệ trẻ là quan trọng để bảo vệ di sản văn hóa y học.

III. Dịch Tễ Bệnh Và Ứng Dụng Cây Thuốc Tại Địa Phương

Dịch tễ tại xã Lăng cho thấy các bệnh thường gặp bao gồm các bệnh nhiễm trùng, viêm đường hô hấp, bệnh tiêu hóachấn thương cơ xương. Người Cơ Tu đã phát triển một hệ thống tri thức Y học để chương trình y tế sơ cấp và phòng chống bệnh tật. Sự tương quan giữa độ tuổi và tri thức sử dụng cây thuốc cho thấy những người lớn tuổi giữ gìn những bài thuốc cổ truyền hiệu quả. Các bài thuốc dân gian này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn giảm chi phí y tế cho cộng đồng địa phương có thu nhập thấp.

3.1. Các Bệnh Thường Gặp Và Cây Thuốc Điều Trị

Các bệnh hô hấp như ho, cảm lạnh được chữa trị bằng cây thuốc như gừng, thơm, lá chuối. Bệnh tiêu hóa được điều trị bằng các loài cây như cỏ mần trâu, diếp cá. Chấn thương và chân thương sử dụng các loài thực vật có tính chất chống viêm và lành vết thương.

3.2. Hệ Số Tin Cậy Và Hiệu Quả Điều Trị

Hệ số tin cậy của các bài thuốc truyền thống được xác định thông qua tỷ lệ người sử dụngtỷ lệ có hiệu quả ghi nhận. Những cây thuốc có hệ số tin cậy cao là những lựa chọn hàng đầu của cộng đồng để điều trị các bệnh thường gặp, phản ánh tính hiệu quả thực tiễn lâu năm của chúng.

IV. Tiềm Năng Phát Triển Và Bảo Tồn Tài Nguyên Cây Thuốc

Tiềm năng phát triển của cây thuốc tại xã Lăng rất lớn, mở ra cơ hội để phát triển sản phẩm dược phẩm hiện đại từ những thành phần cây truyền thống. Nhiều loài cây thuốc tại đây chưa được nghiên cứu khoa học sâu nhưng lại có giá trị dược liệu cao. Việc bảo tồn tri thức sử dụng cây cỏ của người Cơ Tu là bước đầu tiên quan trọng. Cần xây dựng kế hoạch bảo tồn bền vững kết hợp giữa phát triển kinh tếbảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giúp cộng đồng địa phương có thêm nguồn thu nhập từ trồng và chế biến cây thuốc theo hướng hữu cơ.

4.1. Cơ Hội Phát Triển Kinh Tế

Các cây thuốc địa phương có thể được trồng thương mại để cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp dược phẩmcông ty khoa học thảo dược. Việc phát triển sản phẩm từ những loài cây này sẽ tạo việc làmtăng thu nhập cho cộng đồng. Đồng thời, công bố quốc tế về tài nguyên cây thuốc này có thể thu hút đầu tư từ các tổ chức quốc tế quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học.

4.2. Chiến Lược Bảo Tồn Bền Vững

Chiến lược bảo tồn cần bao gồm bảo vệ vùng sống tự nhiên của cây thuốc, khuyến khích trồng các loài quí hiếm và giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tồn tài nguyên. Việc ghi chép kiến thức truyền thốngđào tạo thế hệ trẻ sẽ đảm bảo sự tồn tại lâu dài của tri thức y học cổ truyền quý báu này.

21/12/2025
Bùi thị phương điều tra tài nguyên cây thuốc của người cơ tu ở xã lăng huyện tây giang tỉnh quảng nam khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo ước tính của tổ chức Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), trên thế giới có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh [43]. Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có độ đa dạng cây cỏ cao với hơn 10.000 loài thực vật có mạch đã được xác định [41], [42].117 loài cây được sử dụng làm thuốc [34]. Việt Nam còn là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em – 54 nền văn hóa với tri thức sử dụng cây cỏ khác nhau trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, đến nay còn rất nhiều dân tộc chưa được nghiên cứu, trong đó có dân tộc Cơ Tu tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Nằm ở độ cao khoảng 700-1200m so với mực nước biển, xã Lăng được bao quanh bởi núi rừng với hàng trăm cây cổ thụ được bảo vệ bởi cộng đồng dân tộc Cơ Tu (chiếm khoảng 95% dân số) [45]. Vì vậy, cây cỏ gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây. Tuy nhiên, trước sự phát triển của du lịch, quá trình đô thị hóa, nhu cầu thu mua dược liệu của thương lái nơi biên giới Việt – Lào và các khu vực lân cận, nguồn cây hoang dại đang ngày càng cạn kiệt do việc khai thác quá mức và sử dụng một cách lãng phí. Tri thức sử dụng cây thuốc bị mai một dần do không được tư liệu hóa, người dân thay đổi thói quen khám chữa bệnh hiện đại, thế hệ trẻ thờ ơ với việc học tập kinh nghiệm của cha ông,… Chính vì vậy, việc điều tra tài nguyên và tri thức sử dụng cây thuốc lại càng trở nên cấp bách và có vai trò quan trọng trong công tác y tế và bảo tồn.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Điều tra tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Xác định tính đa dạng sinh học của tài nguyên cây thuốc tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của cộng đồng Cơ Tu, đặc biệt đối với các bệnh thường gặp tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 1. Điều kiện tự nhiên và văn hóa Lãnh thổ Việt Nam là một dải đất hình chữ S có diện tích phần lục địa rộng 35 triệu ha, phân bố từ vĩ độ 8o30’ đến 33o2’ bắc và từ kinh độ 102o10’ đến 109o24’ đông kéo dài từ Bắc xuống Nam hơn 1800km. Địa hình đa dạng, phức tạp với hai vùng đồng bằng lớn là châu thổ Sông Hồng ở phía Bắc và Sông Cửu Long ở phía Nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000m và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Lang Biang, Đắk Lắk, Lâm Viên, Di Linh,. Ở miền Bắc, hầu hết các dãy núi thấp dần từ Bắc xuống Nam, ở miền Trung thấp dần từ Tây sang Đông, tạo điều kiện cho sự xâm nhập của hệ thực vật Á nhiệt đới và Ôn đới như họ Dẻ (Fagaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), …Về phía Nam, địa hình thấp và bằng phẳng.

Việt Nam có hai vùng khí hậu, nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh ở miền Bắc và nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô ở phía Nam. Lượng mưa trung bình năm vượt 1.500 mm nhưng phân bố không đều trong năm [36]. Các yếu tố địa hình và khí hậu đa dạng như vậy đã phần nào giải thích lý do Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong 34 điểm nóng đa dạng sinh học trên thế giới với khoảng 12.000 loài cây cỏ khác nhau và dự đoán có thể đến 13.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ [44], [36]. Nằm ở khu vực giao lưu của các nền văn hóa khu vực Đông Nam Á, Việt Nam còn là ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em, thuộc 3 họ ngôn ngữ và 8 nhóm khác nhau.

Trong đó có cộng đồng người Việt (Kinh) dân số lớn nhất, chủ yếu phân bố ở các vùng châu thổ. Các dân tộc còn lại chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi núi, nơi chiếm ¾ diện tích cả nước. Mỗi dân tộc có tập quán, niềm tin, tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây có làm thuốc khác nhau. Điều này dẫn dến sự đa dạng về tri thức sử dụng cây thuốc ở Việt Nam [36].

Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam Theo thống kê của Viện dược liệu năm 2016, nước ta hiện có 5.117 loài và dưới loài, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn, con số này còn tiếp tục tăng theo thời gian [34]. Dự đoán số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể lên đến 6.000 loài nếu được nghiên 2 cứu đầy đủ trong tương lai. Có tới 87,1% số cây thuốc đã biết là các cây hoang dã, chủ yếu ở vùng đồi núi, từ vùng trung du đến núi cao. Chỉ có 12,9% cây trồng (kể cả bản địa và nhập nội).

Các loài cây thuốc phân bố ở 8 vùng sinh thái trong nước là Đông Bắc - Bắc bộ, Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Đông Trường Sơn và Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long; tập trung chủ yếu ở 5 trung tâm đa dạng sinh vật là Hoàng Liên Sơn, Phia Oắc - Ba Bể, Cúc Phương – Pù Luông, Bạch Mã – Ngọc Linh, Lâm Viên – Di Linh [36], [5], [25]. Các trung tâm đa dạng sinh học chính tại Việt Nam [25] Trung tâm TT Phân bố Dân tộc chính Cây thuốc chính ĐDSH Hoàng Liên Lào Cai, Lai Mông, Dao đỏ, Hoàng liên, Sì to, Tam 1 Sơn Châu, Yên Bái, Thái thất hoang, Sâm Vũ diệp, Sơn La Táo mèo Phia Oắc - Cao Bằng, Bắc Tày, Nùng, Dao Ô đầu, Bình vôi đỏ, Bồ Ba Bể Kạn khai, Xuyên tâm thảo, 2 Hồi, Hoàng liên, Ô rô, Mật mông hoa Cúc Phương Ninh Bình, Mường, Kinh, Trà hoa vàng, Huyết giác, 3 – Pù Luông Thanh Hóa, Hòa Thái, Mông Trâu cổ, Giảo cổ lam 5 lá Bình, Sơn La nhẵn, Dành dành Bạch Mã – Thừa Thiên Kinh, Cơ Tu, Bru Vàng đắng, Sâm Ngọc Ngọc Linh Huế, Đà Nẵng, Vân Kiều, Tà Ôi, Linh 4 Quảng Nam, Xơ Đăng, Gia Kon Tum Rai, Ba Na, Brâu, Rơ Măm Lâm Viên – Lâm Đồng, Đắk Kinh, Kơ Ho, Mạ, Hoàng liên dây, Thạch Di Linh Lắk, Đồng Nai Ba Na, Gia Rai, tùng răng cưa, Thông đỏ, 5 Tày Nùng Đảng sâm, Vàng đắng, Ươi 3 1. Xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 1. Điều kiện tự nhiên Huyện Tây Giang là một huyện biên giới nằm phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam, là một huyện miền núi còn giữ cho mình nhiều nét văn hóa nguyên sơ, cổ kính và đậm đà bản sắc dân tộc.

Ẩn mình trên dãy Tây Trường Sơn hùng vĩ, điều kiện tự nhiên, khí hậu á nhiệt đới, mát mẻ quanh năm, vì thế hệ sinh thái động thực vật ở độ cao hơn 1000 mét so với mực nước biển rất phong phú và đa dạng, có nhiều loại cây dược liệu quý hiếm như Ba kích, Đẳng sâm, Tr’đin, Bá bệnh, Khúc khắc, Lim xanh,…[45]. Xã Lăng nằm ở gần trung tâm huyện Tây Giang, có diện tích 223,39 Km2 phân bố xung quanh vĩ độ 15°49′ B và kinh độ 107°27′ Đ. Phía Tây Bắc của xã sát biên giới Việt – Lào, phía Đông Bắc tiếp giáp xã A Tiêng - Tây Giang, phía Đông giáp xã Dang - Tây Giang, phía Nam giáp xã Zuôih - Nam Giang, phía Tây giáp Tr’Hy - Tây Giang. Xã Lăng gồm 7 thôn: A Ró, A Rớh, Bha Lừa, Jơ Da, Nal, Pơrning và Tà Ry.

Nằm ở độ cao khoảng 700-1200m so với mực nước biển, diện tích rừng tự nhiên nơi đây chiếm đến hơn 50% với hàng trăm cây cổ thụ được bảo vệ bởi cộng đồng dân tộc Cơ Tu [45]. Điều kiện kinh tế - xã hội Dân cư tại xã Lăng khoảng 1.864 người, trong đó trên 80% là người Cơ Tu. Đến cuối năm 2015, xã Lăng là xã thứ 2 của huyện Tây Giang đạt chuẩn nông thôn mới (cùng với xã A Nông), được định hướng là xã trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch của huyện Tây Giang [16]. Vì vậy, đời sống văn hóa của người dân nơi đây được nâng cao một cách rõ rệt: từ những nếp nhà được dựng trên nền mặt bằng mới theo hình bầu dục, mang hơi ấm truyền thống văn hóa làng Cơ Tu; những con đường dẫn vào thôn, hộ gia đình đã được mở rộng và bê tông hóa; ngôi trường xã và thôn khang trang, sạch đẹp đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia; trạm y tế xã cũng được xây mới phục vụ, chăm sóc sức khỏe người dân;.

Du lịch ở xã Lăng phát triển từ rất sớm so với các khu vực khác trong huyện, nhưng luôn gắn liền với công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Cơ Tu. Nhiều địa điểm thu hút khách du lịch như: Thác Nal; điểm dừng chân ngắm cảnh thiên nhiên đỉnh Quế 1369 gắn với suối mát Ra’ai, thôn văn hóa Pơrning. Pơrning là thôn điển 4 hình còn giữ nguyên vẹn văn hóa làng truyền thống dân tộc Cơ Tu. Nơi đây thường xuyên diễn ra các lễ hội làng, giao lưu văn hóa thập phương.

Khắp các thôn của xã Lăng đều có đội múa cồng chiêng, hát lý, baboóch [45]. Về kinh tế, xã Lăng chú trọng đến việc trồng cao su để tạo thu nhập cho người dân, giảm dần hộ đói nghèo; kênh mương hóa nội đồng để nhân dân phát triển ruộng lúa nước. Bên cạnh đó, xã Lăng còn là đầu mối giao thương mua bán nhiều loại dược liệu giữa Lào, Việt Nam và các khu vực lân cận, như: Đảng sâm, Ba kích, Tiêu rừng, Táo mèo, Ngọc cẩu,… Tuy nhiên, công tác quản lý, kiểm soát chất lượng dược liệu trên địa bàn xã Lăng nói riêng, huyện Tây Giang nói chung, còn gặp nhiều khó khăn [45]. Dân tộc Cơ Tu Người Cơ Tu (hay còn gọi là Catu, C’tu, Katu, K’tu, Phương, Hạ… ) thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á.

Họ sống tập trung chủ yếu ở các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang (Quảng Nam); một số khác cư trú ở huyện Nam Vang (Đà Nẵng), huyện Nam Đông và A Lưới (Thừa Thiên Huế). Ngoài ra, người Cơ Tu còn sinh sống ở tỉnh Sêkông, Saravan, Champasak (Lào) [21],[30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ