ĐẶT VẤN ĐỀ Hen phế quản (HPQ) là tình trạng viêm mạn tính đƣờng thở với sự tham gia của nhiều tế bào thành phần tế bào, làm tăng tính đáp ứng đƣờng thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc ngh n, hạn chế luồng khí đƣờng thở, làm xuất hiện các dấu hiệu khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn nhiều lần, thƣờng xảy ra vào ban đêm và sáng sớm, có thể phục hồi tự nhiên hoặc do dùng thuốc 1], [2], [3]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2014 trên thế giới đang có khoảng 340 triệu ngƣời mắc bệnh hen, tỉ lệ mắc bệnh vẫn đang phát triển theo hƣớng tăng dần, dự kiến với tình trạng đô thị hóa tăng từ 45% lên 59% vào năm 2025 thì thế giới s có thêm 100 triệu ngƣời bệnh nữa [4], [5]. Thống kê của chƣơng trình khởi động toàn cầu về phòng chống hen (GINA) cho thấy mỗi năm trên thế giới có khoảng 250.000 trƣờng hợp tử vong do hen, điều quan trọng hơn là 85% những trƣờng hợp tử vong do hen có thể tránh đƣợc nếu đƣợc phát hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời [4], [5]. Hiện nay những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong y học đã giúp hiểu biết hơn về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh hen.
Mục tiêu của ngành y tế là kiểm soát và tìm ra các biện pháp phòng chống căn bệnh này một cách hiệu quả. Y học hiện đại đã có nhiều phƣơng pháp điều trị hen nhƣ dùng các loại thuốc cắt cơn bằng đƣờng uống hay xịt có hiệu quả nhanh. Bên cạnh đó YHCT cũng góp phần không nhỏ để kiểm soát bệnh hen nhƣ uống thuốc sắc y học cổ truyền và các phƣơng pháp không dùng thuốc nhƣ châm cứu, cấy chỉ, tập dƣỡng sinh. Cấy chỉ là phƣơng pháp đƣa chỉ catgut vào huyệt vị, qua quá trình tự tiêu của chỉ có tác dụng duy trì sự kích thích lâu dài qua đó tạo tác dụng điều trị bệnh [9], [10].
2 Dƣỡng sinh là phƣơng pháp tự tập luyện để nâng cao thể chất, giữ sức khỏe phòng bệnh và chữa bệnh. Đặc biệt là phƣơng pháp dƣỡng sinh của Nguyễn Văn Hƣởng với các động tác tập thở bốn thì âm dƣơng, chổng mông thở…có tác dụng tăng cƣờng thông khí phổi, giảm nguy cơ tắc ngh n đƣờng thở, hỗ trợ điều trị tốt hen phế quản [11]. Với mục đích bƣớc đầu chứng minh hiệu quả của phƣơng pháp cấy chỉ kết hợp tập dƣỡng sinh trong điều trị hen phế quản và cung cấp cho các nhà lâm sàng thêm lựa chọn trong điều trị và kiểm soát hen phế quản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả của phƣơng pháp cấy chỉ kết hợp tập dƣỡng sinh trong kiểm soát hen phế quản thể hƣ hàn” với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả kiểm soát hen trên lâm sàng của phương pháp cấy chỉ kết hợp tập dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng.
Đánh giá kết quả của phương pháp cấy chỉ kết hợp tập dưỡng sinh trong cải thiện chức năng hô hấp do hen phế quản. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ HEN PHẾ QUẢN 1. Hen phế quản theo y học hiện đại 1.
Định nghĩa hen phế quản Theo chƣơng trình khởi động toàn cầu về phòng chống hen (Global Initiative for Asthma- GINA) năm 2018: “Hen là một bệnh lý đa dạng, thƣờng có đặc điểm là viêm đƣờng thở mạn tính với sự hiện diện bệnh sử có các triệu chứng hô hấp nhƣ khò khè, khó thở, nặng ngực và ho. Các triệu chứng này thay đổi theo thời gian và về cƣờng độ cùng với sự giới hạn luồng khí thở ra thay đổi” 1]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của hen phế quản Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ [2], [3], [4]: - Di truyền: Yếu tố di truyền, cơ địa dị ứng… - Các yếu tố môi trƣờng, các dị nguyên, nhiễm virus: hoá chất, bụi, khói thuốc lá, phấn hoa… - Các yếu tố nguy cơ khởi phát: thay đổi thời tiết, vận động quá sức, một số mùi vị đặc biệt (đặc biệt khói thuốc lá), cảm xúc mạnh, v.v… Cơ chế bệnh sinh: - Cơ chế bệnh sinh của hen rất phức tạp nhƣng có thể mô tả tóm tắt bằng sự tƣơng tác của ba quá trình bệnh lý cơ bản là: Viêm mạn tính đƣờng thở, tăng đáp ứng của phế quản và co thắt, phù nề xuất tiết phế quản, trong đó viêm mạn tính đƣờng thở là trung tâm [12], [13], [14]: + Viêm mạn tính đƣờng thở: có sự tham gia của nhiều tế bào viêm (đại thực bào), tế bào Th1, Th2, tế bào mast, lympho bào và các chất trung gian hóa học, chủ yếu là các chất trung gian tiên phát (histamin, serotonin, bradykinin, PAF, .), các chất trung gian thứ phát (leucotrien, prostaglandin, các neuropeptid), các cytokin (interleukin, TNF , INF , v. 4 + Tăng tính đáp ứng đƣờng thở: là bất thƣờng sinh lý đặc trƣng của hen.
Đây là tình trạng đáp ứng co thắt phế quản quá mức với các yếu tố kích thích đƣờng hít. Việc tăng tính phản ứng đƣờng thở liên quan đến tần suất triệu chứng hen, do đó làm giảm tình trạng này là mục tiêu điều trị quan trọng. Phế quản co thắt khi đáp ứng với các chất kích thích trực tiếp nhƣ histamine và cả các yếu tố kích thích gián tiếp, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của quá trình viêm mạn tính làm co thắt các cơ trơn, gây phù nề niêm mạc và tăng xuất tiết. Kết quả là xuất hiện các triệu chứng của hen nhƣ: khó thở, khò khè, nặng ngực và ho.
Các triệu chứng này thƣờng xuất hiện hoặc nặng lên vào ban đêm và sáng sớm vì có liên quan đến chức năng của hệ phó giao cảm [12], [13], [14]. Triệu chứng hen phế quản Lâm sàng: - Triệu chứng cơ năng: khó thở, ho, khò khè, nặng ngực. Đặc điểm của cơn khó thở: xuất hiện đột ngột thƣờng buổi tối hoặc nửa đêm về sáng, khó thở ở thì thở ra hoặc cả hai thì, khó thở thành từng cơn (ngoài cơn bệnh nhân bình thƣờng), cơn khó thở có thể tự kết thúc khi không dùng thuốc hoặc giảm khi dùng các thuốc giãn phế quản. - Triệu chứng thực thể: Trong cơn khó thở khám phổi thấy: Gõ lồng ngực vang, nghe rì rào phế nang giảm, có ran rít, ran ngáy.
Sau cơn hen thƣờng không thấy gì đặc biệt. Trên lâm sàng cơn hen phế quản thƣờng chia 3 giai đoạn: + Tiền triệu: Hắt hơi, sổ mũi, ngứa mắt, buồn ngủ, ho, v. + Cơn khó thở: khó thở ra, chậm, khò khè, tiếng rít (bản thân ngƣời bệnh và ngƣời xung quanh có thể nghe thấy), mức độ khó thở tăng dần, có thể kèm theo vã mồ hôi, nói khó. + Thoái lui: Cơn có thể ngắn 5-15 phút, có thể kéo dài hàng giờ hoặc dài hơn.
Cơn hen có thể tự hồi phục, kết thúc bằng khó thở giảm dần, ho và khạc đờm trong, quánh dính [2], [3],[15], [16]. 5 Cận lâm sàng: - Chụp XQ tim phổi: Trong cơn hen, lồng ngực căng phồng, các khoảng gian sƣờn giãn rộng, cơ hoành hạ thấp, phổi tăng sáng, rốn phổi đậm. - Đo chức năng thông khí: Những nơi có điều kiện cần đo chức năng hô hấp với các chỉ tiêu nhƣ: PEF, FEV1 và Tiffeneau, Gaensler để đánh giá mức độ nặng nhẹ của cơn hen, khả năng hồi phục và sự dao động của luồng khí tắc ngh n, giúp khẳng định chẩn đoán hen [2], [3], [15], [16]. Chẩn đoán hen phế quản - Ở Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào bảng tiêu chuẩn chẩn đoán hen của GINA 2018 (bảng 1.
Tiêu chuẩn chẩn đoán hen ở người lớn [1].Tiền sử có các triệu chứng hô hấp thay đổi Các triệu chứng điển hình là thở khò khè, khó thở, nặng ngực và ho. • Thông thƣờng ngƣời bị hen có nhiều hơn một trong các triệu chứng này. • Các triệu chứng xảy ra thay đổi theo thời gian và cƣờng độ. • Các triệu chứng thƣờng xảy ra hoặc xấu hơn vào ban đêm hay lúc thức giấc • Các triệu chứng thƣờng khởi phát khi tập thể dục, cƣời lớn, tiếp xúc các dị nguyên hoặc không khí lạnh.
• Các triệu chứng thƣờng xảy ra hay trở nên xấu đi khi nhiễm siêu vi. Bằng chứng giới hạn luồng khí thở ra bị thay đổi • Ít nhất một lần trong quá trình chẩn đoán có thể tích thở ra tối đa/giây, là thể tích thở ra trong giây đầu tiên của động tác thở ra mạnh, đơn vị là l/giây (FEV1) thấp, chứng cứ cho thấy tỉ lệ đánh giá rối loạn thông khí tắc ngh n (FEV1/FVC) bị giảm. Tỉ lệ FEV1/FVC bình thƣờng lớn hơn 0,75-0,80 đối với ngƣời lớn. Phân loại hen phế quản - Phân loại theo nguyên nhân: gồm hen dị ứng, hen không dị ứng, hen khởi phát muộn, hen có giới hạn luồng khí cố định, hen trên ngƣời béo phì [2], [3], [17], [18].
-Phân loại theo bậc nặng nhẹ (bảng 1. Phân loại bậc nặng nhẹ của bệnh theo GINA 2018 [1] Lƣu Mức độ cơn hen Dao Bậc Triệu chứng Triệu chứng lƣợng ảnh hƣởng đến động hen ban ngày ban đêm đỉnh hoạt động PEF (PEF) Không giới hạn I <1 lần/tuần ≤2lần/tuần >80% <20% hoạt động thể lực >1 lần/tuần nhƣng Có thể ảnh hƣởng 20%- II >2 lần/tháng 80% <1 lần/ngày hoạt động thể lực 30% Ảnh hƣởng hoạt III Hàng ngày >1 lần/tuần 60%-80% >30% động thể lực Giới hạn hoạt động IV Thƣờng xuyên Thƣờng có ≤60% >30% thể lực Chú ý: Chỉ cần 1 biểu hiện ở bậc nặng nhất là đủ xếp vào bậc đó. Bệnh nhân dù ở bậc hen nhẹ nhất không thƣờng xuyên nhƣng có cơn hen cấp nặng cần đƣợc điều trị nhƣ hen trung bình dai dẳng (bậc III). Bệnh nhân ở bất cứ bậc hen nào cũng có thể bị cơn hen cấp nặng.
- Phân loại mức độ kiểm soát hen bằng test kiểm soát hen ACT (bảng 1.3): Đây là công cụ đã đƣợc kiểm định tốt để đo lƣờng mức độ kiểm soát hen trong thực tế lâm sàng. Đƣợc Hội Phổi Hoa Kỳ nghiên cứu và đƣa ra áp dụng toàn thế giới vào 5/2004. Phân loại mức độ kiểm soát hen theo test kiểm soát hen ACT [19 ] Câu 1: Trong 4 tuần qua, bao nhiêu ngày bệnh hen phải làm bạn nghỉ làm, nghỉ học hay phải nghỉ tại nhà? Tất cả Hầu hết các Một số ngày Chỉ một ít Không có ngày các ngày (1) ngày (2) (3) ngày (4) nào (5) Câu 2: Trong 4 tuần qua bạn có gặp cơn khó thở không? Không có lần >1 lần/ngày (1) =1 lần/ngày (2) 3-6 lần/tuần (3) 1-2 lần/tuần (4) nào (5) Câu 3: Trong 4 tuần qua, bạn có thƣờng phải thức giấc ban đêm hay phải dậy sớm do các triệu chứng của hen nhƣ ho, khò khè, nặng ngực?