CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN – CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO VÀ TỰ SỰ HIỆN THỰC HUYỀN ẢO 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Nghiên cứu liên quan đến tự sự Tự sự đã có lịch sử lâu đời, khởi nguồn từ mối quan tâm đến truyện kể; trong các tác phẩm của Plato, Aristotle, tự sự bao gồm hệ thống kỹ thuật, thủ pháp và kinh nghiệm kể chuyện. Tuy nhiên không phải lúc nào tự sự cũng được quan tâm nhiều như nội dung, ý nghĩa câu chuyện. Đến thế kỷ XX, vấn đề tự sự được trường phái Hình thức Nga quan tâm trở lại trong công trình của Claude Lévi-Strauss và được Tzvetan Todorov đặt tên khai sinh Narralogy (Tự sự học). Đến Genette, tự sự học có được hệ thống phân loại phù hợp và hướng ứng dụng hiệu quả các lý thuyết trước đó.
Số lượng công trình nghiên cứu về tự sự học ngày càng nhiều, khó bao quát hết. Trong giới hạn luận án, nghiên cứu cấu trúc tự sự, chúng tôi đặc biệt lưu ý một số công trình có sức ảnh hưởng đáng kể như sau. Trước hết, công trình Thematics (1965) (trong Russian Formalist Criticism: Four Essays) của Boris Tomashevsky đã trình bày các vấn đề cơ bản như lựa chọn chủ đề, câu chuyện, cốt truyện, động lực, nhân vật, sức mạnh các phương tiện tổ chức văn bản. Theo đó, chủ đề là mạch xuyên suốt kết nối tất cả các thành phần khác; đặc biệt, ông nhấn mạnh chiến lược, cấu trúc mà tác giả dùng để thu hút độc giả.
Điều này nhắc nhở vai trò của người đọc trong việc tiếp cận chủ đề chính, các chủ đề phụ và thành phần khác, cơ bản nhất là motif. Theo Tomashevshy, “Motif là đơn vị cơ bản mà từ đó mọi thứ khác được cấu thành. Đề cập đến motif trong phần 2 – câu chuyện và cốt truyện, ông phân lập hai mặt của motif cũng như hai bình diện tự sự: nếu nhìn motif từ sự xuất hiện của nó trên văn bản thì thuộc diện cốt truyện/truyện kể, còn nói đến sự xuất hiện mang tính thời gian của nó tức đang bàn về câu chuyện. Từ motif, câu chuyện được hình thành bao gồm nhiều thành tố.
Motif cũng là thành phần tạo nên động lực (dự báo, miêu tả nhân vật, đánh lừa người đọc) và nhân vật (trung tâm, mặt nạ nhân vật). Thực ra, Tomashevky quan tâm đến sự xuất hiện của motif đóng góp cho cốt truyện, bởi trọng tâm của ông là hình thức tự sự. Tuy nhiên nhấn mạnh câu chuyện với những biểu hiện của nó sẽ là bước chuyển nhịp nhàng và cũng là một phần của tự sự. Mô hình thành tố câu chuyện, nhấn mạnh vào vai trò motif của Tomashevsky là trục chính để khảo sát nội dung yếu tố huyền ảo tái lặp trong câu chuyện HTHA của G.Greimas đã thiết lập các vai hành động thông qua những chức năng và cụ thể hóa cách phân loại vai hành động về các hành tố trong Sémantique Structurale: Recherché de Méthode.
Ông đưa ra khái niệm hành tố bao gồm ba nhóm chủ thể/đối tượng, người gửi/người nhận và trợ thủ/đối thủ. Thao tác quy giản về vai hành động, đơn vị của hệ thống, chính là thủ pháp tiêu biểu của phương pháp cấu trúc mà luận án này vận dụng. Cùng với hệ thống các chức năng của V.Proop, mô hình hành tố của Greimas (phụ lục 2, hình 1.1) đã giúp chúng tôi xác định dạng nhân vật hành nhân trong câu chuyện, thời gian hành trình trên văn bản tự sự HTHA của Garcia Marquez. Công trình Narrative Situations in the Novel: Tom Jones, Moby-Dick, The Ambassadors, Ulysses (1971) của Franz Stanzel đã hệ thống hóa các kiểu tình huống tự sự, tức mối quan hệ chuyển đổi giữa câu chuyện và truyện kể, tức những biến đổi về kiểu, loại, cấp độ của khái niệm mà ông gọi là “mediacy” (Mittelbarkeit) – thể trung gian – hiện tượng giọng người kể xuất hiện trên văn bản.
Theo đó, tác giả phân tình huống tự sự (narrative situation) thành ba kiểu: tự sự quyền tác giả, ngôi thứ nhất và nhập vai. Các thành phần của thể trung gian này bao gồm: person (người kể bên trong hoặc bên ngoài thế giới truyện kể), perspective (điểm nhìn nội quan hay ngoại quan) và mode (ai đang kể, họ được cá thể hóa hay ẩn kín, tiêu chí này sẽ phân biệt giữa kể và tả). Tác giả cũng xác định tính chất trội của mỗi tình huống kể chuyện, theo đó tự sự quyền tác giả gắn với sự ưu trội của điểm nhìn bên ngoài, tự sự ngôi thứ nhất gắn với điểm nhìn bên trong thế giới hư cấu và tự sự nhập vai gắn với tính chất phản ánh, suy ngẫm. Stanzel dùng prototype để nói sự biến đổi linh hoạt của các tình huống tự sự, nghĩa là tại những thời điểm khác nhau, tình huống tự sự có thể thay đổi.
Những phân loại và nhận định của Stanzel là định hướng cho tiến trình khảo sát nội dung người kể chuyện ngôi thứ ba với lối kể chuyện cổ tích trong đề tài này.Barthes, trong “An Introduction to the Structural Analysis of Narrative” (1975), đã bàn đến những vấn đề cơ bản nhất của cấu trúc tự sự bao gồm ngôn ngữ văn bản tự sự, chức năng, hành động, tường thuật và hệ thống văn bản tự sự. Một cột mốc đặc biệt, đáng nhớ của tự sự học, được thiết lập bởi Gerard Genette, lý thuyết gia văn học người Pháp, là phát triển tự sự theo hướng cấu trúc một cách hệ thống. Vốn chịu ảnh hưởng từ Roland Barthes và Levi Strauss, Genette phân cấu trúc tự sự thành ba cấp độ: câu chuyện (story), truyện kể (narrative) và kể chuyện (narration); hệ thống quan niệm này được thể 3 hiện trong Narrative Discourse: An Essay in Method in năm 1979. Lấy tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất của Proust là tài liệu nghiên cứu chính, Genette phân tự sự học thành 05 phạm trù chính bao gồm trật tự (Order), tần suất (Frequency), độ dài (Duration), thể (Voice) và thức (Mood).
Trật tự thể hiện mối quan hệ giữa trật tự câu chuyện và trật tự trong truyện kể bao gồm bốn loại: sự kiện xảy ra một lần được kể một lần (Singular), được kể nhiều lần (Repetitive); sự kiện diễn ra nhiều lần được kể một lần (Iterative), được kể nhiều lần (Multiple). Độ dài thể hiện tương quan giữa sự kiện và cách kể lại nó. Thứ đến, thức (Mood) phụ thuộc vào khoảng cách và điểm nhìn của người kể. Người kể có thể thuộc một trong bốn dạng sau: không tiêu điểm, có tiêu điểm, tiêu điểm bên trong, tiêu điểm bên ngoài.
Công trình của Genette để lại nhiều dấu ấn nhất ở đề tài này trong khâu phân loại và khảo sát cụ thể các vấn đề như tần suất thời gian tự sự đặt trong hành trình nhân vật, cách định tiêu điểm trong kết cấu mê cung của văn bản tự sự Garcia Marquez. Năm 1983, Shlmith Rimmon Kennan giới thiệu công trình Narrative Fiction: Contemporary Poetics gồm 10 phần; tác giả dành hai phần để bàn Câu chuyện (sự kiện và nhân vật), ba phần để bàn Truyện kể/văn bản (thời gian, dựng nhân vật, định tiêu điểm) và hai phần để bàn về cách Kể chuyện (thức và cách). Ở cấp độ vi mô, những kiến giải của Kennan cũng hỗ trợ chúng tôi trong khâu khảo sát nhân vật, xây dựng thời gian trong văn bản tự sự và đối chiếu các mô hình khác, tiêu biêu là của Greimas. Vài năm sau, Mikel Bal, trong Narratology: Introduction to the Theory of Narrative (1985), đã chia cấu trúc tự sự ra thành ba cấp độ bao gồm: Câu chuyện (fabula), Truyện kể (story) và Văn bản (text).
Câu chuyện bao gồm các thành phần cơ bản như sự kiện, nhân vật, hành tố, thời gian và nơi chốn. Truyện kể bàn các vấn đề như trật tự, khả năng, định hướng, tiêu điểm và khoảng cách. Văn bản bàn về người kể và tác giả. Mikel đã làm rõ định tiêu điểm và cho đây là phương thức quan trọng nhất để chuyển tải câu chuyện và thu hút độc giả.
Tác giả còn chỉ ra nhiều thủ pháp trần thuật như ngưng đọng, nhịp điệu, dự đoán, v. Nội dung này hướng chúng tôi tìm kiếm các thủ pháp của Garcia Marquez khi kể câu chuyện hiện thực huyền ảo nhằm trả lời câu hỏi các nhà văn HTHA đã kết hợp yếu tố hiện thực và huyền ảo như thế nào. 4 Bên cạnh đó, khi tiến hành đề tài này, chúng tôi còn có cơ hội tham khảo ý tưởng của Jose Angel Garcia Landa trong Narrative Theory (1990), Monika Fludernik trong An Introduction to Narratology (2009), Trần Đình Sử trong Tự sự học – Một số vấn đề nghiên cứu và lịch sử (2014) và Phạm Ngọc Lan với Một số vấn đề Tự sự học Cấu trúc (2019), v. Những công trình này đã tiếp cận hệ thống luận điểm phong phú của các tác giả Tự sự học cấu trúc kinh điển, đồng thời gợi nhiều kiến giải thú vị.
Vận dụng cách phân tích của Genette, chúng tôi hiểu cấu trúc tự sự bao gồm ba cấp độ lần lượt là câu chuyện (Story), truyện kể/ văn bản/ cốt truyện (Plot/Narrative) và kể chuyện (Narration). Câu chuyện hướng đến ý nghĩa, mối quan hệ bên ngoài, với độc giả và các thành phần khác; truyện kể hướng đến cấu trúc tĩnh, mối quan hệ bên trong, các thành phần trong văn bản và kể chuyện là cấp độ hướng đến thủ pháp, giọng điệu, tức cách thức tạo ra truyện kể. Theo đó, chúng tôi lần lượt tiếp cận cấu trúc tự sự HTHA của Gabriel Garcia Marquez ở các chương tương ứng gồm: câu chuyện, truyện kể và nghệ thật kể chuyện. Trong quá trình này, chúng tôi cũng mở rộng tham khảo các nghiên cứu có liên quan nhằm giải quyết vấn đề tự sự trong một độ lùi cần thiết; đáng kể nhất là công trình Aspect of the Novel (2002) của E.
Forster với các nội dung như câu chuyện, con người, cốt truyện, kỳ ảo, tiên đoán, mô hình và nhịp điệu. Trong đó, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến quan niệm về hai loại hình nhân vật: dẹt/tĩnh và tròn/động. Đây là cách phân chia làm cơ sở cho mô hình hành tố (actant model) của Greimas về sau. Về đại thể, hướng tiếp cận này dựa trên mô hình lưỡng phân: đơn giản – phức tạp, động – tĩnh v.
phát triển thành chủ thể đối tượng, trợ thủ, kẻ thù. Vận dụng hướng nghiên cứu trên làm nền tảng, song trong luận án này, chúng tôi vẫn ý thức tính tổng hợp để tiếp cận cấu trúc tự sự HTHA của G.2 Nghiên cứu liên quan đến tự sự hiện thực huyền ảo Ở đây, chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu CNHTHA, hình tượng HTHA (nhân vật, không gian, thời gian) và thủ pháp kể chuyện HTHA nhằm tìm ra khuynh hướng chung, minh định lại tính chất huyền ảo và xác định vấn đề cần giải quyết.