mở đầu cho một thể tài đầy tính hấp dẫn, gặt hái được những giá trị quý báu, tạo tiền đề cho sự nở rộ của tiền đề này trong văn học Việt Nam đương đại. Giai đoạn 1945 - 1975: thể chân dung bị hạn chế. Đây là thời kỳ văn học giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc Mĩ. Lúc này, văn học chân dung không phát triển rầm rộ do yêu cầu của hoàn cảnh lịch 19 z sử.
Các tác giả hăng say viết về những vấn đề của cuộc chiến. Đôi khi là những tác phẩm chân dung ngợi ca, tôn vinh. Giai đoạn 1986 - nay: là thời kỳ phát triển đỉnh cao của thể chân dung văn học, xã hội Việt Nam chuyển dần và chuyển mạnh sang một thời kì đổi mới khá toàn diện, từ một số quan niệm về nhà nước, thiết chế xã hội, cơ cấu kinh tế… Trên văn đàn, người đọc được chiêm ngưỡng hàng loạt chân dung các nhà văn, nhà thơ lớn của văn học Việt Nam như Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp. Từ 1986, ở nước ta tinh thần đổi mới, dân chủ được nâng cao, mà chủ yếu là tôn trọng con người cá nhân, tôn trọng hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Đặc biệt, không khí cởi mở hơn của quan niệm văn chương, sự tự do dân chủ hơn trong sáng tác và tiếp nhận đã tạo điều kiện cho đời sống văn học phát triển trên cả bề rộng lẫn bề sâu. Đây là tiền đề để thể tài chân dung văn học phát triển. Thể chân dung văn học phát triển rất mạnh về cả số lượng và chất lượng. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tham gia viết cho thể tài này từ nhiều góc nhìn khác nhau, đồng thời cũng được dư luận xã hội cùng giới văn chương, báo chí đón nhận nồng nhiệt, thậm chí như một hiện tượng độc đáo, nhận nhiều ý kiến khen chê trái chiềù hết sức sôi nổi.
Thể tài chân dung văn học đã có một sự đóng góp lớn trong việc giúp người đọc khám phá, hiểu sâu hơn về đời sống của nhà văn và những sáng tác của họ, từ đó hiểu hơn về diện mạo của nền văn học Việt Nam đương đại. Năm 1990 Nguyễn Đăng Mạnh viết Chân dung văn học, sau đó là Một số gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại (1992), Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách (2000), Văn học Việt Nam hiện đại, những gương mặt tiêu biểu(2012). Năm 1998 nhà thơ Trần Đăng Khoa với tập Chân dung và đối thoại. Tô Hoài với Cát bụi chân ai (1992), Những 20 z gương mặt (1997), Chiều chiều (1999) đã dựng lại một cách chân thật về những người bạn nghệ sĩ, những người bình thường hay bạn thân tác giả.
Đọc tác phẩm ông, ta biết thêm nhiều điều lí thú về chân dung nhà văn cùng thế hệ với tác giả và con người tác giả. Có những tác giả không chỉ dừng lại những chân dung văn học trong nước mà còn dựng những chân dung văn học ngoài nước như Hồ Anh Thái với Họ trở thành nhân vật của tôi (2012), Tự kể, và gần đây nhất là Lang thang trong chữ. Hồ Anh Thái viết: "Tất cả những con người vốn tự mình sáng tạo ra cả một thế giới nhân vật, lần này chính họ lại trở thành nhân vật trong tay người khác”[46]. Trong Chân trời có người bay của tác giả Đỗ Lai Thúy tác giả đã không viết chân dung văn học theo cách hiểu của số đông: văn là người, con người xã hội mà đây là những “chân dung tinh thần, chân dung học thuật được viết bằng ấn tượng, ký ức, cảm nghĩ, tán thưởng, tranh luận, thóc mách và đôi lúc vượt cả khoảng cách của sử thi”, sau đó Đỗ Lai Thúy thông qua cuốn sách Vẫy vào vô tận để giới thiệu 17 chân dung các nhà văn hóa, các nhà nghiên cứu có đóng góp cho con đường học thuật và tư tưởng của đất nước.
Nếu Chân trời có người bay triển khai vấn đề theo chiều xã hội thì Vẫy vào vô tận lại phác họa chân dung theo chiều siêu thức (tư duy về tâm linh). Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa dày hơn 300 trang thực tế là một cuốn chân dung văn học. Đối thoại chỉ là cái cách để Trần Đăng Khoa dựng chân dung: chân dung các nhà văn, chân dung lớp nhà văn, chân dung một thời kì văn học. Sự ra đời, phát triển của chân dung văn học như nhu cầu cấp thiết của mỗi người viết, là “cú hích mạnh” thúc đẩy sự đổi mới, phát triển quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
Mỗi ngòi bút tìm cho mình một hướng khai thác riêng về chân dung văn học và do thế đã tạo nên sự độc đáo, đa dạng cho thể loại này. Những nét phác sinh động hơn, ngày càng gần gũi, đời thường về những nhà văn đã và đang làm rạng danh nền văn học hiện đại. Viết về 21 z những nhà văn đương thời, các cây bút chân dung văn học thường tìm đến những chi tiết thú vị trong những cuộc gặp gỡ chuyện trò, cố gắng đọc ra sự độc đáo trong cá tính của họ, tư tưởng và sự độc đáo của họ. Kéo đối tượng lại gẩn nhất để quan sát chiêm nghiệm trong một bút pháp ký họa sinh động, thể chân dung văn học đương đại vẫn không từ bỏ mục đích quan trọng nhất của nó: thông qua nhà văn để hiểu thêm giá trị văn chương của họ, phát hiện cái riêng có trong tính cách và tác phẩm của họ.
Và bởi thế, thông qua một thứ ngôn ngữ trút bỏ hết quan phương, ít lý luận cao đạo mà chỉ là những trang viết về “bạn văn”, các tác phẩm chân dung văn học như đã mở ra một cuộc bàn tròn tay ba giữa nhà văn, người viết chân dung và người đọc. Và từ đó, nảy ra những suy nghĩ nhận định sâu xa về văn chương. Hành trình sáng tác của Hồ Anh Thái 1. Con người Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội, quê gốc ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Năm 1977, ông tốt nghiệp THPT; năm 1983 tốt nghiệp Đại học ngoại giao chuyên nghành Quan hệ Quốc tế, sau đó làm việc tại Bộ Ngoại giao. Ông tham gia nghĩa vụ quân sự hai năm. Giải ngũ, ông tham gia viết báo và làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu - Mỹ, đặc biệt là Ấn Độ, Iran. Giỏi ngoại ngữ, ông là một nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Ấn Độ, giảng viên thỉnh giảng tại nhiều trường Đại học nổi tiếng trên thế giới.
Hiện nay, ông là Tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông, công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam, làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại Iran. Hồ Anh Thái thuộc thế hệ các nhà văn lớn lên trong những năm chiến tranh và trưởng thành trong thời hậu chiến. Ông là nhà văn đạt được nhiều thành tựu. Từ khi là một cây bút trẻ, rất nhạy cảm với môi trường công nghiệp hiện đại, ông đã lựa chọn cho mình một phương thức thể hiện rất riêng.
Chính 22 z sự hòa kết giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về cõi người, cõi đời khá độc đáo trong những trang viết sắc sảo của ông. Có một nhà triết gia đã từng nói “không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”. Điều này rất đúng với Hồ Anh Thái. Thích “xê dịch”, luôn thay đổi, vì thế, anh không dừng lại ở một cách viết mà mỗi đề tài là một lối viết phù hợp, luôn tìm cách tạo ra những công cụ văn chương mới.
Anh sợ hài lòng với chính bản thân mình, sợ một nền văn nghệ mà các nghệ sĩ cứ bám riết lấy một phương pháp vì có một phương pháp nào mà lại phù hợp với cả một nền nghệ thuật, phù hợp với cả một đời làm nghệ thuật? Truyện của Hồ Anh Thái đã phản ánh một cách trung thực những bộn bề, phức tạp của cuộc sống thời khủng hoảng, thời xây dựng. Nhân vật trong các sáng tác của ông, vì lẽ đó, cũng trở nên gần gũi với tầm đón nhận, thị hiếu của người đọc hôm nay. Đó là những con người ta có thể bắt gặp xung quanh hay ngay trong chính mình. Mỗi người là một nhân vị riêng với những mảnh đời, những bi kịch khác nhau với tất cả chất người tự nhiên của nó.
Ðến nay, Hồ Anh Thái đã có tới hơn ba mươi đầu sách, chứng tỏ một “sức bền” thật đáng nể. Không trông chờ vào ngẫu hứng, ông có một cách viết mang tính chuyên nghiệp. Với ông, nhà văn chuyên nghiệp là người phải biết tự ép mình vào một thứ kỷ luật viết. Và nhà văn chuyên nghiệp là người có đủ kỹ năng và nghệ thuật để khi ngồi vào bên bàn, có thể huy động cảm hứng đến.
Hồ Anh Thái đã làm được điều ấy. Bắt đầu viết văn từ lúc 17 tuổi, anh đã có thâm niên hơn 30 năm cày ải trên cánh đồng chữ nghĩa. Ba mươi năm với khoảng 30 đầu sách đã xuất bản (tính cho đến thời điểm này), nghĩa là gần như năm nào anh cũng có sách in ra. Nghĩa là trong suốt 30 năm qua, lúc nào anh cũng đang viết.
Phải nhấn mạnh chi tiết này, bởi lẽ, nó cho thấy rất rõ tính chuyên nghiệp trong con người nhà văn của Hồ Anh Thái. Nhà văn 23 z chuyên nghiệp là người phải biết tự ép mình vào một thứ kỷ luật viết. Và nhà văn chuyên nghiệp là người có đủ kỹ năng và nghệ thuật để khi ngồi vào bên bàn, có thể huy động cảm hứng đến. Với vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực, làm nhiều công việc khác nhau và đặc biệt ông rất “say” với nghiệp văn chương, nghề văn đối với ông có sức lôi cuốn mạnh mẽ khó mà cưỡng lại được.
Ông từng nói: “Hễ định viết một cuốn sách mang tính nghiên cứu tôi lập tức nhớ ra rằng phải dành thời gian cho mấy cái truyện cần viết. Tôi thích sáng tác hơn. Thứ ngôn ngữ văn học không bị phủ bụi kinh viện quyến rũ tôi. Những ý tưởng táo bạo, những cảm xúc mê đắm, những nhân vật sinh động, những tình huống khác lạ.
vẫn làm tôi say mê hơn cả những trang nghiên cứu”. Ông là người có sở trường và nhạy cảm nắm bắt cái mới, những vấn đề thời sự của cuộc sống hiện đại. Tác phẩm của ông có khả năng bao quát phạm vi hiện thực cả ở bề rộng lẫn chiều sâu.