chương 1, nội dung trọng tâm là các công trình nghiên cứu liên quan đến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở khu vực Đông Nam Á từ năm 2009 đến năm 2020 thể hiện trên các lĩnh vực, cụ thể là chính trị - ngoại giao; an ninh - quốc phòng; kinh tế - thương mại; khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác. Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tiếp cận từ cách nhìn tổng quan là một trong những sự lựa chọn phổ biến của các nhà nghiên cứu để đưa ra bức tranh tổng quát về hiện tượng quan hệ quốc tế này. Từ năm 2009 - thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama, tính chất cạnh tranh chiến lược bắt đầu xuất hiện ở Đông Nam Á. Đồng thời, từ năm 2017, nghiên cứu về cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tăng nhanh về cả số lượng lẫn chất lượng khi Tổng thống Donald Trump xác định Trung Quốc là đối thủ chiến lược của Mỹ.
Để phân tích rõ hơn các công trình được chia theo các nhóm nội dung sau: (i), Nhóm các công trình nghiên cứu về chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ và Trung Quốc; (ii), Nhóm các công trình nghiên cứu về cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung; (iii), Nhóm các công trình nghiên cứu về cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông Nam Á. Nhóm các công trình nghiên cứu về chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ và Trung Quốc 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ Chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ từ năm 2009 đến năm 2020 đã được quan tâm và nghiên cứu ở Việt Nam thể hiện thông qua số lượng lẫn chất lượng. Một trong những cách tiếp cận nổi bật là tiếp cận từ quan điểm của các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế.
Điểm chung là các tác giả thường tiếp cận theo các trường phái chung và quan tâm đến trường hợp nghiên cứu là Việt Nam. Việt Nam được đề cập và nghiên cứu trên nền tảng các chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á. Một số công trình có thể kể đến như: Cuốn sách “Chính sách đối ngoại Mỹ: Tiếp cận từ Thuyết hiện thực mới và trường hợp Việt Nam sau khi Bình thường hóa quan hệ đến nay” của Lê Đình Tĩnh (2020) tập trung lý giải những nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại Mỹ sau Chiến tranh Lạnh dưới lăng kính của thuyết Hiện thực mới. Theo tác giả, với một lý thuyết quan hệ quốc tế có ảnh hưởng lớn và “mang đậm tính chất Mỹ”, thuyết Hiện thực mới có lợi thế trong việc phân tích chính sách đối ngoại Mỹ [Lê Đình Tĩnh, 2020b].
Kết quả nghiên cứu trên đã tạo nền tảng và định hướng cho đề tài trong cách tiếp cận của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á thông qua trường hợp nghiên cứu là Việt Nam. Cuốn sách “Chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Donald Trump” (Sách chuyên khảo) của Phạm Cao Cường (2022) làm rõ mục tiêu, thực trạng triển khai chính sách an ninh của Mỹ với Đông Nam Á. Đặc biệt, những đánh giá, dự báo và hàm ý chính sách là những quan điểm quý báu khi luận án tiếp cận lĩnh vực an ninh - quốc phòng trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung. Đồng thời, tác giả Nguyễn Cao Cường (2022) cũng có sách xuất bản là “Sự can dự về an ninh của Mỹ ở Đông Nam Á dưới thời chính quyền Bill Clinton và George W.
Công trình này cung cấp các thông tin nền tảng để hiểu rõ về sự can dự của Mỹ ở Đông Nam Á trong lĩnh vực an ninh. Đây là cơ sở để các tổng thống kế nhiệm như Barack Obama và Donald Trump kế thừa và can dự sâu hơn các vấn đề an ninh của khu vực. Ngoài ra, một số bài viết có thể kể đến như: “Các trọng điểm trong chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á hiện nay” [Nguyễn Thị Thanh Vân, 2014]; “Chủ nghĩa tự do và chính sách đối ngoại của Mỹ” [Đỗ Thị Ngọc Anh, 2022];… 22 Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại Mỹ còn được xem xét theo nhiệm kỳ của các đời tổng thống, cụ thể là: Công trình “Obama và sự trỗi dậy của Trung Quốc trong chiến lược châu Á của Mỹ” (tên tiếng Anh: Obama and China’s Rise in America’s Asian Strategy) của Jeffrey A. Tuy vậy, công trình mới dừng lại ở việc phân tích động thái của một số nước Đông Nam Á thể hiện mong muốn có sự hiện diện của Mỹ tại khu vực mà chưa đề cập đến lợi ích chiến lược và tác động của các chiến lược này đến sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung [Bader, 2015].
Luận án Tiến sĩ Đông Nam Á học “Chính sách đối với Đông Nam Á của chính quyền Tổng thống Barack Obama (2009-2016) của Phạm Hoàng Tú Linh (2016) được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, phân tích sự thay đổi chiến lược của chính quyền Tổng thống Barack Obama khi đặt Đông Nam Á vào vị trí trung tâm của chiến lược toàn cầu, dựa trên nguyên tắc quan hệ song phương và đa phương. Trong đó, kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách “Xoay trục” của Mỹ đã góp phần củng cố quan hệ với các quốc gia ở Đông Nam Á, duy trì thế cân bằng chiến lược với Trung Quốc và từ đó thúc đẩy môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác [Phạm Hoàng Tú Linh, 2016]; Công trình “Tác động của các nhân tố nội bộ đối với chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Donald Trump” của Tô Anh Tuấn chủ biên (2019) cung cấp một bức tranh tổng thể về những nhân tố bao gồm nhân tố tác động và nhân tố nội bộ; mối tương quan của thể chế chính trị tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp) và chính sách đối ngoại. Đáng chú ý, công trình đã tiếp cận chính sách đối ngoại Mỹ ở cấp độ cá nhân thông qua trường hợp của Tổng thống Donald Trump. Ngoài ra, các nhân tố khác cũng được xem xét như mối quan hệ của Đảng Cộng hòa và Tổng thống Donald Trump; cơ quan tư vấn chính sách, nhóm lợi ích, tổ chức vận động hành lang của Mỹ; truyền thông và công chúng Mỹ [Tô Anh Tuấn chủ biên, 2019].
Sách“Chính sách đối ngoại Mỹ dưới thời Chính quyền Joe Biden và những tác động tới quan hệ quốc tế” của Lê Công Tiến, Trần Huyền Trang (2024) phân tích xu hướng thay đổi của một số yếu tố định hình chính sách đối ngoại trên cơ sở nghiên cứu các văn bản chiến lược được công bố và thực tế triển khai, 23 cuốn sách khái quát hóa chính sách đối ngoại Mỹ trong 2 năm đầu nhiệm kỳ Tổng thống Joe Biden về các trụ cột chính sách, mục tiêu ưu tiên, đường hướng triển khai. Bên cạnh đó, một số bài viết đề cập đến sự điều chỉnh chiến lược, các chiến lược theo từng giai đoạn trong chính sách đối ngoại Mỹ, có thể kể đến như:“Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ: Vai trò và cách thức triển khai” [Phạm Thị Thanh Bình, Vũ Nhật Quang, 2020]; “Sự can dự của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương: Từ chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma đến Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm” [Phạm Minh Thu, 2019]; “Điều chỉnh chiến lược của Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương: Những tác động đối với mối quan hệ khu vực” [Hoàng Khắc Nam, 2017a]; “Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ 2017 và chiều hướng quan hệ Mỹ - Trung trong thời gian tới” [Đặng Cẩm Tú, 2018];… cũng chú trọng phân tích chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ.
Đối với các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài, chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ từ năm 2009 đến năm 2020 cũng nhận được sự quan tâm lớn, thể hiện thông qua các công trình như sau: Công trình “Security policy in Asia from Obama to Trump: Autopilot, neglect or worse?” của Nick Bisley (2020) thảo luận về chính sách châu Á mà Tổng thống Donald Trump kế thừa từ Tổng thống Barack Obama liên quan đến lợi ích chiến lược cùng các chiến lược dài hạn của Mỹ. Không chỉ vậy, tác giả trình bày có hệ thống về cách Tổng thống Donald Trump tiếp cận các thách thức an ninh quan trọng của châu Á và các tuyên bố mang tính định hướng khu vực khi tập trung vào Trung Quốc và lĩnh vực thương mại [Bisley, 2020]. Công trình “The Economy-security Conundrum in American Grand Strategy: Foreign Economic Policy toward China from Obama to Biden” (Bài toán hóc búa về an ninh - kinh tế trong chiến lược của nước Mỹ: Chính sách kinh tế đối ngoại đối với Trung Quốc từ Obama đến Biden) của Zeno Leoni (2022) nghiên cứu về vấn đề chiến lược “hóc búa” của Mỹ về an ninh - kinh tế. Những lo ngại liên quan đến các thể chế, mạng lưới kinh tế xuyên quốc gia, mối quan tâm an ninh quốc gia đòi hỏi chính quyền của các tổng thống Mỹ phải nỗ lực cân bằng giữa các lợi ích quan trọng nhưng vẫn phải đối phó với các thách thức từ Trung Quốc.
Vì vậy, dù cách thức khác nhau, các chính quyền Mỹ đều theo đuổi các mục tiêu dài hạn 24 giống nhau thông qua các chiến lược với tên gọi khác nhau [Leoni, 2022]. Về phương thức Mỹ tiếp cận khu vực Đông Nam Á, Mỹ đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống đồng minh - đối tác. Điểm đáng chú ý là từ năm 2009 đến năm 2020, Mỹ dành sự quan tâm lớn cho thiết lập, nâng cấp quan hệ đối tác. Sách “Imperfect partners: The United States and Southeast Asia” (Những đối tác không hoàn hảo: Mỹ và Đông Nam Á) của Scot Marciel (2023) tập trung phân tích về quan hệ của Mỹ với các đối tác quan trọng tại Đông Nam Á trong gần 40 năm.
Theo đó, ba nhóm chính là đồng minh, các nước “cựu thù và các nước trong quá trình chuyển đổi. Đối tác không hoàn hảo là sự kết hợp giữa hồi ký và nội dung nghiên cứu chính sách đối ngoại về quan hệ của Mỹ với Đông Nam Á. Những phân tích, đánh giá của tác giả đã phác thảo một bức tranh toàn cảnh về lịch sử quan hệ của Mỹ với các quốc gia Đông Nam Á, hỗ trợ những hiểu biết cơ bản về quan hệ của Mỹ ở khu vực cho đề tài.