Can thiệp tâm lý cho một trường hợp nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên

Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên, mang lại giải pháp hiệu quả và thiết thực.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

0.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Khách thể nghiên cứu

0.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẦM CẢM VÀ LIỆU PHÁP TÂM LÍ ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM

1.1. Tổng quan về rối loạn trầm cảm

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2. Một số vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm ở tuổi trung niên

1.2.1. Khái niệm trầm cảm

1.2.2. Các lý thuyết về trầm cảm

1.2.3. Đặc điểm lâm sàng tuổi trung niên

1.2.4. Trầm cảm ở phụ nữ tuổi trung niên

1.2.5. Các triệu chứng trầm cảm

2. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VÀ CAN THIỆP MỘT TRƢỜNG HỢP NỮ BỆNH NHÂN TRẦM CẢM TUỔI TRUNG NIÊN

2.1. Thông tin chung về thân chủ

2.1.1. Thông tin hành chính

2.1.2. Lý do thăm khám

2.1.3. Hoàn cảnh gặp gỡ

2.1.4. Ấn tượng chung về thân chủ

2.2. Các vấn đề đạo đức

2.2.1. Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng

2.2.2. Đạo đức trong việc sử dụng các công cụ đánh giá và thực hiện quy trình đánh giá

2.2.3. Đạo đức trong can thiệp trị liệu

2.3. Mô tả vấn đề

2.4. Kết quả đánh giá

2.4.1. Định hình trường hợp

2.5. Lập kế hoạch can thiệp

2.5.1. Xác định các mục tiêu

2.5.2. Kế hoạch can thiệp

2.6. Thực hiện can thiệp

2.6.1. Phiên trị liệu thứ nhất

2.6.2. Phiên trị liệu thứ hai

2.6.3. Phiên trị liệu thứ ba

2.6.4. Phiên trị liệu thứ tư

2.6.5. Phiên trị liệu thứ năm

2.6.6. Phiên trị liệu thứ sáu

2.6.7. Phiên trị liệu thứ bảy

2.6.8. Phiên trị liệu thứ tám

2.6.9. Phiên trị liệu thứ chín

2.7. Đánh giá hiệu quả can thiệp

2.7.1. Cách thức đánh giá và các công cụ lâm sàng sử dụng để đánh giá

2.7.2. Kết quả đánh giá

2.8. Kết thúc ca và theo dõi sau trị liệu

2.8.1. Tình trạng hiện thời của thân chủ

2.8.2. Kế hoạch theo dõi sau trị liệu

2.9. Bàn luận chung

2.9.1. Bàn luận về ca lâm sàng đã thực hiện

2.9.2. Tự đánh giá về chất lượng can thiệp trị liệu

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên

Trầm cảm là một rối loạn tâm lý phổ biến, đặc biệt ở phụ nữ tuổi trung niên. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ trầm cảm ở nhóm tuổi này cao hơn so với nam giới. Việc can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên không chỉ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe tâm thần mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống. Các phương pháp can thiệp tâm lý hiện nay đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân.

1.1. Tình trạng tâm lý của phụ nữ tuổi trung niên và trầm cảm

Phụ nữ tuổi trung niên thường phải đối mặt với nhiều thay đổi trong cuộc sống như mãn kinh, nuôi dạy con cái và áp lực công việc. Những yếu tố này có thể dẫn đến tình trạng trầm cảm tuổi trung niên. Theo nghiên cứu, tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ trong độ tuổi này có thể lên đến 38%.

1.2. Tác động của trầm cảm đến sức khỏe tâm thần

Trầm cảm không chỉ ảnh hưởng đến tâm trạng mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe khác như rối loạn giấc ngủ, giảm năng lượng và cảm giác tội lỗi. Những triệu chứng này có thể làm giảm chất lượng cuộc sống và khả năng làm việc của bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm

Mặc dù có nhiều phương pháp can thiệp tâm lý, nhưng việc áp dụng chúng cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như sự kỳ thị xã hội, thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ gia đình có thể cản trở quá trình điều trị. Đặc biệt, phụ nữ thường ngại chia sẻ cảm xúc và tìm kiếm sự giúp đỡ, dẫn đến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

2.1. Sự kỳ thị xã hội đối với bệnh trầm cảm

Nhiều phụ nữ cảm thấy xấu hổ khi thừa nhận mình mắc bệnh trầm cảm. Sự kỳ thị này có thể khiến họ không dám tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia tâm lý, dẫn đến tình trạng bệnh kéo dài và nghiêm trọng hơn.

2.2. Thiếu thông tin và hỗ trợ từ gia đình

Nhiều gia đình không hiểu rõ về bệnh trầm cảm và cách hỗ trợ người bệnh. Điều này có thể làm cho bệnh nhân cảm thấy cô đơn và không được hỗ trợ, từ đó làm tăng mức độ trầm cảm.

III. Phương pháp can thiệp tâm lý hiệu quả cho nữ bệnh nhân trầm cảm

Có nhiều phương pháp can thiệp tâm lý hiệu quả cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên. Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) và liệu pháp thư giãn là hai trong số những phương pháp được áp dụng phổ biến. Những phương pháp này không chỉ giúp bệnh nhân nhận diện và thay đổi những suy nghĩ tiêu cực mà còn giúp họ cải thiện kỹ năng đối phó với stress.

3.1. Liệu pháp nhận thức hành vi CBT

CBT là một phương pháp can thiệp tâm lý hiệu quả, giúp bệnh nhân nhận diện và thay đổi những suy nghĩ tiêu cực. Nghiên cứu cho thấy, CBT có thể cải thiện tình trạng trầm cảm ở phụ nữ tuổi trung niên lên đến 71%.

3.2. Liệu pháp thư giãn và kỹ thuật giảm stress

Liệu pháp thư giãn giúp bệnh nhân giảm căng thẳng và lo âu. Các kỹ thuật như thiền, yoga và hít thở sâu có thể giúp cải thiện tâm trạng và giảm triệu chứng trầm cảm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về can thiệp tâm lý

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên mang lại kết quả tích cực. Các bệnh nhân không chỉ cảm thấy tâm trạng tốt hơn mà còn cải thiện được các mối quan hệ xã hội và chất lượng cuộc sống. Việc theo dõi và đánh giá hiệu quả can thiệp là rất quan trọng để điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy, việc kết hợp giữa thuốc chống trầm cảm và liệu pháp tâm lý có hiệu quả cao hơn so với việc chỉ sử dụng thuốc. Tỷ lệ hồi phục đạt 71% khi áp dụng cả hai phương pháp.

4.2. Theo dõi và đánh giá hiệu quả can thiệp

Việc theo dõi tình trạng tâm lý của bệnh nhân sau can thiệp là rất quan trọng. Các chuyên gia cần sử dụng các công cụ đánh giá để xác định hiệu quả của phương pháp can thiệp và điều chỉnh kịp thời.

V. Kết luận và tương lai của can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm

Can thiệp tâm lý cho nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết. Với sự phát triển của các phương pháp điều trị mới, hy vọng rằng ngày càng nhiều bệnh nhân sẽ nhận được sự hỗ trợ cần thiết. Tương lai của can thiệp tâm lý sẽ phụ thuộc vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh trầm cảm và sự hỗ trợ từ gia đình.

5.1. Tầm quan trọng của can thiệp tâm lý

Can thiệp tâm lý không chỉ giúp bệnh nhân hồi phục mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ trầm cảm trong cộng đồng.

5.2. Định hướng tương lai cho nghiên cứu và can thiệp

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp can thiệp mới, đồng thời nâng cao nhận thức về bệnh trầm cảm trong cộng đồng. Sự hợp tác giữa các chuyên gia tâm lý và gia đình sẽ là chìa khóa để giúp bệnh nhân hồi phục.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh can thiệp tâm lí cho một trường hợp nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên002

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Trong xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, những mối nguy hại tiềm tàng đe dọa đến sức khỏe tâm trí của chúng ta ngày càng gia tăng. Theo đánh giá chung của nhiều quốc gia trên thế giới, các rối loạn liên quan đến tâm lý chiếm 20%- 25% dân số. Trong đó, trầm cảm là rối loạn rất thường gặp và phổ biến.

Tỉ lệ trầm cảm chiếm 3-6% dân số. Trầm cảm thường gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành, nguy cơ tái diễn khoảng 50%, nếu được điều trị có thể phục hồi hoàn toàn và ổn định, nếu không đươc điều trị có thể trở thành mạn tính. Nữ giới mắc trầm cảm nhiều gấp 3 lần nam giới (nữ chiếm 9% dân số, nam chiếm 3% dân số) [22]. Trầm cảm có thể gặp ở mọi vùng dân cư và mọi lứa tuổi, tần suất trầm cảm thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp, giới tính, trình độ, mức sống, văn hóa xã hội và lứa tuổi [27].

Trầm cảm có thể gặp ở bất cứ tuổi nào, từ vị thành niên đến người già, nhưng trầm cảm hay gặp nhất là độ tuổi 40. Và đặc biệt là phụ nữ tuổi trung niên. Ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt về văn hóa, đều thấy tỷ lệ trầm cảm ở nữ cao hơn ở nam từ 1,5 đến 3 lần. Lý do của sự khác biệt này có thể do khác nhau về hormone và do phụ nữ phải sinh con [1].

Theo khảo sát của tổ chức Chăm sóc Sức khỏe Phụ nữ Trung niên Melbourne - Úc, khoảng 40% phụ nữ trung niên thường gặp phải những căng thẳng thần kinh, buồn rầu và trầm cảm. Còn theo nghiên cứu của bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ quanh tuổi mãn kinh tại Việt Nam lên đến 38% [Dẫn theo 18]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh trầm cảm cướp đi mỗi năm khoảng 850.000 nhân mạng, đến năm 2020 trầm cảm sẽ là căn bệnh xếp thứ 2 trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu người mắc bệnh [25]. Thông thường, hầu hết bệnh nhân trầm cảm được trị liệu bằng liệu pháp hóa dược.

Nhưng như chúng ta biết, thuốc chống trầm cảm có rất nhiều tác dụng phụ như đau đầu, chóng mặt, hồi hộp, run tay, táo bón… một số thuốc khi dùng ở giai đoạn đầu có khi làm tăng nguy cơ tự sát ở bệnh nhân [34]. Trong khi đó, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, khi kết hợp thuốc chống trầm cảm và liệu pháp tâm lí trong 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều trị trầm cảm thì cho kết quả tốt trên 71%, còn nếu điều trị đơn độc thuốc chỉ đạt tỉ lệ 61%. Ngày nay, sự phát triển của trị liệu tâm lí như là một hướng điều trị chính đã được chấp nhận rộng rãi. Liệu pháp hành vi – nhận thức thực chất là sự kết hợp giữa các kĩ thuật của liệu pháp hành vi và liệu pháp nhận thức.

Các liệu pháp hành vi – nhận thức đều có những kĩ thuật chung: xác định mục tiêu; đánh giá hành vi – nhận thức; tự giám sát; giải quyết vấn đề; kích hoạt hoạt hành vi và phòng ngừa tái phát [16]. Mục tiêu của trị liệu nhận thức – hành vi là giúp người bệnh giải quyết được những rối loạn tâm thần của họ, nó có những đóng góp rất đáng kể không chỉ công tác điều trị và phòng ngừa các chứng bệnh tâm thần mà còn giúp giải quyết các vấn đề khác của y học (phục hồi các chứng bệnh thực thể, chăm sóc sức khỏe cộng đồng) và xã hội [8]. Từ những mong muốn mang lại hiệu quả trong việc điều trị cho bệnh nhân trầm cảm, chúng tôi chọn đề tài: “Can thiệp tâm lí cho một trường hợp nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên”. Nhiệm vụ nghiên cứu - Điểm luận một số nghiên cứu về trầm cảm và điều trị trầm cảm bằng liệu pháp tâm lí - Trình bày một số vấn đề lý luận liên quan đến rối loạn trầm cảm.

- Đánh giá tâm lý cho một trường hợp nữ bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên. - Áp dụng các liệu pháp tâm lí đối với trường hợp bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên. - Đánh giá hiệu quả của liệu pháp tâm lí đối với một trường hợp bệnh nhân trầm cảm tuổi trung niên. - Đưa ra kết luận và kiến nghị cho ca lâm sàng.

Khách thể nghiên cứu Trường hợp một bệnh nhân nữ trầm cảm tuổi trung niên. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. - Phương pháp quan sát lân sàng. - Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cuộc đời. - Phương pháp đánh giá hiệu quả can thiệp. - Phương pháp trắc nghiệm/ thang đo. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẦM CẢM VÀ LIỆU PHÁP TÂM LÍ ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM 1.

Tổng quan về rối loạn trầm cảm 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Lịch sử nghiên cứu từ xa xưa cho đến thời điểm chúng tôi tiến hành đề tài này có rất nhiều nhà khoa học khác nhau, tìm hiểu và nghiên cứu về trầm cảm và trong phạm vi đề tài này, chúng tôi dựa trên những công trình nghiên cứu sau: Rối loạn trầm cảm đã được mô tả từ thời Cổ đại. Tuy nhiên, Emil Kraepelin – nhà tâm thần học người Đức – là người đầu tiên tách bệnh trầm cảm thành một bệnh độc lập dựa trên sự thống nhất về các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển, ông đã hợp nhất các thể bệnh trước kia được coi như là những bệnh độc lập như “Bệnh thao cuồng”, “Bệnh sầu uất”, “Bệnh loạn tâm thần tuần hoàn”, với sự thay đổi lần lượt các giai đoạn trái ngược nhau hoặc sự kết hợp những giai đoạn tương phản nhau. Theo Levitan (1997) đã nghiên cứu trên 8116 bệnh nhân từ 15 – 64 tuổi và xác định tỉ lệ trầm cảm điển hình là 8%, và có xu hướng tăng lên gấp 2 - 3 lần trong 25 năm gần đây, nữ cao gấp 2 lần nam và tăng lên ở tuổi 40.

Viện nghiên cứu sức khỏe tâm thần Hoa Kì (NIMH), cũng cho thấy tỉ lệ trầm cảm là 5% [Dẫn theo 3]. Theo nghiên cứu của Polit, D;& Martinez (2001), chỉ ra rằng, những người phụ nữ có nguy cơ trầm cảm cao thì khả năng lạm dụng chất cao, còn những người phụ nữ có lạm dụng chất thì có nguy cơ trầm cảm cao [Dẫn theo 44]. Theo Sadock (2007), rối loạn trầm cảm gặp ở 10% tổng số bệnh nhân đi khám bệnh và chiếm 15% tổng số các nhân phải nằm điều trị. Ở độ tuổi 45 – 65, tỷ lệ trầm cảm của phụ nữ là 25%, nghĩa là cứ 4 người ở độ tuổi này thì có 1 người đang bị trầm cảm [Dẫn theo 1].

Nghiên cứu của O’Hara và cs (2012) cho thấy, trầm cảm ảnh hưởng đến khoảng 19% phụ nữ sau sinh trong thời gian 3 tháng đầu sau sinh với mức độ trầm cảm nặng [Dẫn theo 24]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu của Sendra – Gutierrez và cộng sự (2017) tại Tây Ban Nha cho thấy, rối loạn trầm cảm ở người có độ tuổi trên 40 tuổi là 12,6% và các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm gồm tình trạng sức khỏe, các bệnh mãn tính, thiếu sự quan tâm chăm sóc [Dẫn theo 25]. Như vậy, từ kết quả của các nghiên cứu trên có thể thấy, tỷ lệ trầm cảm trong cộng đồng dân cư nói chung dao động từ khoảng 4% đến 20% tùy thuộc vào từng nghiên cứu và từng địa bàn nghiên cứu khác nhau. Ở một số nhóm đặc biệt, tỷ lệ mặc trầm cảm cao hơn, chẳng hạn, phụ nữ từ 40 tuổi trở lên (12,6% - 25%), phụ nữ sau sinh (19%) và bệnh nhân nằm điều trị ở bệnh viện (15%).

Các nghiên cứu trong nước Tuy chưa phát triển mạnh như các nước trên thế giới và cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về bệnh trầm cảm, nhưng ở Việt Nam, các nghiên cứu cũng đang ngày càng nhiều về số lượng và càng nâng cao về chất lượng, có nhiều đóng góp vào việc nhận biết sớm, điều trị, phòng ngừa rối loạn tâm thần này. Theo Trần Quỳnh Anh, Tạ Đình Cao, Cao Văn Tuân (2018), nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành xã Chiềng Đen – Thành phố Sơn La – Tỉnh Sơn La năm 2017, cho thấy rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành tại xã Chiềng Đen là 3,62%, tỷ lệ ở nữ cao hơn nam. Kết quả này tương đương với công bố mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới cho biết năm 2017 có khoảng 300 triệu người mắc rối loạn trầm cảm, tương đương 3,94% [25]. Nghiên cứu “Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tinh thần cho học sinh ở thành phố Đà Nẵng” do bác sĩ Nguyễn Văn Thọ và cộng sự thực hiện từ năm 1998- 2000, cho thấy lo âu, trầm cảm chiếm 10 - 21% trong số những học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần [33].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Đạt (2003), nghiên cứu rối loạn trầm cảm và một số yếu tố tâm lý xã hội liên quan đến học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội cho kết quả 18,8% có các biểu hiện của rối loạn trầm cảm và 9,1% được khẳng định là rối loạn trầm cảm [7]. Một nghiên cứu khác của Hồ Ngọc Quỳnh (2009) liên quan tới trầm cảm của nhóm đối tượng là sinh viên. Tác giả đã lấy sinh viên điều dưỡng và y tế công cộng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại Thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm ở sinh viên y tế công cộng là 17,6 %, trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng là 16,5%. Trầm cảm của sinh viên liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức về bản thân [2].

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008) nhận thấy tỷ lệ trầm cảm ở lứa tuổi mãn kinh rất cao và liên quan nhiều đến yếu tố bệnh tật như nghỉ hưu, sự ra đi của người thân [18]. Tác giả Trần Thị Minh Đức, Bùi Thị Hồng Thái và Ngô Xuân Điệp (2016) đã có nghiên cứu trầm cảm ở phụ nữ sau sinh, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ 17,3% phụ nữ sau sinh được xác định có trầm cảm sau sinh [24]. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về RLTC được thực hiện trên các khách thể đặc biệt như bệnh nhân, công nhân,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ