CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.Một số khái niệm cơ bản về TCDN và phân tích TCDN 1.Khái niệm TCDN Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp.Khái niệm phân tích TCDN Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối quan hệ ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên BCTC để có thể đánh giá tình hình TCDN thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà DN đã đề ra hoặc so với các DN cùng ngành nghề. (Phân tích TCDN – NXB Đại học Quốc Gia TP.Một số khái niệm khác 1.Tài sản Là nguồn lực do DN kiểm soát và có thể thu được lợi tích kinh tế trong tương lai. Lợi ích kinh tế trong tương lai của tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của DN hoặc làm giảm bớt những khoản tiền mà DN chi ra. Tài sản của DN được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế.
Tài sản xét theo tính chất và yêu cầu quản lý bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.Tài sản ngắn hạn Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của DN có thời gian sử dụng, luân chuyển giá trị trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN hoặc trong một năm. TSNH của DN bao gồm nhiều loại khác nhau về tính chất và công dụng, do đó TSNH được phân loại theo nhiều cách khác nhau.Tài sản dài hạn Là những tài sản của DN có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị trên 1 năm hoặc qua nhiều chu kỳ kinh doanh của DN. Bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, tài sản đầu tư TC dài hạn và tài sản dài hạn khác. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Lớp: K46H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: ThS.Nợ phải trả Là các nghĩa vụ hiện tại của DN, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà DN sẽ phải thanh toán từ các nguồn lực của mình.
Đó alf toàn bộ các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh đơn vị phải trả cho các chủ nợ nhưng chưa trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Hàng tồn kho Là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường hoặc đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang hoặc nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.Nguồn vốn chủ sở hữu Là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ DN và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. DN có quyền sử dụng lâu dài trong quá trình hoạt động và không phải cam kết thanh toán. VCSH trong DN bao gồm nhiều loại khác nhau.Lý thuyết về phân tích TCDN 1.Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích TCDN 1.Mục tiêu của phân tích TCDN Phân tích TCDN nhằm nhận thức, đánh giá một cách đúng đắn, toàn diện, khách quan tình hình và khả năng tài chính của DN, thấy được sự tác động, ảnh hưởng của nó đến việc thực hiện các nhiệm vụ sản suất kinh doanh và kết quả kinh doanh, tìm ra những yếu kém, mâu thuẫn còn tồn tại trong công tác tổ chức và quản lý tài chính, qua đó đề ra những phương hướng, biện pháp cải tiến, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý TCDN.Ý nghĩa của phân tích TCDN Phân tích tài chính hiểu theo nghĩa khái quát là hệ thống các phương pháp đánh giá, phân tích, hiểu các BCTC của DN trong một thời gian hoạt động nhất định, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh.
Do đó việc thường xuyên đánh giá, phân tích tình hình tài chính công ty giúp cho các nhà quản trị công ty, các cơ quan quản lý của công ty hiểu rõ về thực trạng tài chính của công ty, xác định được đầy đủ, đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của công ty. Từ đó có những biện pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính công ty. Nó cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá, đưa ra quyết định kịp SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Lớp: K46H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: ThS. Đỗ Thị Diên thời của nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong ngoài nước.Cơ sở dữ liệu để phân tích TCDN Những thông tin đầu vào phục vụ cho quá trình phân tích TCDN có thể được thu thập từ các nguồn dữ liệu khác nhau, bao gồm: Các thông tin chung của nền kinh tế, các thông tin theo ngành và các thông tin liên quan trực tiếp đến DN thuộc đối tượng phân tích.
Trong đó, các thông tin liên quan trực tiếp đến DN bao gồm các thông tin về TCDN được thể hiện tập trung trong các báo cáo TCDN. Đây chính là cơ sở dữ liệu quan trọng và chủ yếu nhất phục vụ cho công tác phân tích TCDN. Thông thường, bộ báo cáo TCDN bao gồm 4 báo cáo cơ bản : Bảng cân đối kế toán: Là một báo cáo mô tả tình trạng tài chính của DN trên hai khía cạnh là tài sản và nguồn vốn của DN tại một thời điểm cụ thể. Nói cách khác, đây là bản báo cáo trình bày những thứ mà DN đang nắm giữ thể hiện ở phần tài sản và những thứ mà DN nợ thể hiện ở phần nguồn vốn tại một thời điểm nhất định.
BCĐKT cho biết qui mô và cơ cấu giá trị của các loại tài sản mà DN đang nắm giữ cũng như qui mô và cơ cấu các nguồn vốn mà DN đã huy động để tài trợ cho tài sản. Hiện nay, ở Việt Nam, các DN tiến hành lập BCĐKT theo biểu mẫu hướng dẫn của Nhà nước (Mẫu B01-DN, ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC). Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một BCTC phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của DN trong một niên độ kế toán. BCKQKD trình bày kết quả kinh doanh theo từng loại hình hoạt động gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.
Nội dung cơ bản của BCKQKD được trình bày theo các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của DN. Hiện nay, ở Việt Nam, các DN tiến hành lập BCKQKD theo biểu mẫu hướng dẫn của Nhà nước (Mẫu B02-DN, ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC). Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Là một BCTC mô tả dòng vận động tiền tệ của DN trong một khoảng thời gian nhất định. BCLCTT cho biết dòng tiền vào, ra và chênh lệch giữa chúng, phản ánh cách thức mà DN huy động tiền và số tiền đó đã ddc chi tiêu, sử dụng vào việc gì.
Hiện nay, ở Việt Nam, các DN tiến hành lập BCKQKD theo biểu mẫu hướng dẫn của Nhà nước (Mẫu B03-DN, ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC). Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Là một bản báo cáo bổ sung mô tả và giải thích các đặc điểm, tình hình và kết quả tài chính của DN trong một khoảng thời gian nhất định. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Lớp: K46H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: ThS. Đỗ Thị Diên Hiện nay, ở Việt Nam, các DN tiến hành lập BCKQKD theo biểu mẫu hướng dẫn của Nhà nước (Mẫu B09-DN, ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC).
Phương pháp phân tích TCDN 1.Phương pháp so sánh So sánh là phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn so sánh thường là: chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các DN tiêu biểu cùng ngành. Điều kiện để so sánh là: các chỉ tiêu só ánh phải phù hợp với yếu tố không gian, thời gian và nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán. Phương pháp so sánh có hai hình thức: so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối.
So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở. So sánh tương đối là tỷ lệ phần trăm (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng. Nội dung so sánh: + So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của DN. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của hoạt động tài chính của DN.
+ So sánh theo chiều dọc để so sánh tỷ trọng cuat từng chỉ tiêu so với tổng thể + So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến động của cả số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kê toán. + So sánh số liệu DN với số liệu trung bình của ngành, của DN khác trong cùng một thời gian nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan.Phương pháp tỷ lệ Là một trong các phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến trong phân tích TCDN. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.
Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu xác định được các ngưỡng – các tỷ số tham chiếu. Để đánh giá tình hình tài chính của một DN cần kết hợp phương pháp tỷ số với phương pháp so sánh để so sánh các tỷ số của DN với các tỷ số tham chiếu. Khi phân tích, nhà phân tích thường so sánh theo thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trước ) để nhận SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Lớp: K46H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: ThS.