Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI LÀM THAM VẤN TÂM LÍ 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc Hạnh phúc là một khái niệm trừu tượng. Các tác giả nghiên cứu về hạnh phúc đã tiếp cận theo nhiều hướng và nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này. Sau đây, đề tài sẽ tóm lược những nghiên cứu có liên quan về hạnh phúc (happiness) và CNHP (psychological well-being).
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về hạnh phúc (happiness) Suốt một khoảng thời gian dài “chủ đề hạnh phúc” vẫn được xem là chủ đề thuộc về triết học, thần học, chính trị. Do tính chất mơ hồ, khó nắm bắt, hạnh phúc rất khó để trở thành đối tượng có thể phân tích một cách duy lý và định lượng của khoa học, mà chỉ là một khái niệm được nghiên cứu chủ yếu thiên về định tính. Vì không thỏa mãn với những cách giải thích đầy tính duy tâm và định tính về hạnh phúc như thế, việc quy giản hạnh phúc thành các đại lượng có thể đo lường đã trở thành tham vọng của các nhà khoa học nói chung.
Những kết quả nghiên cứu ban đầu về hạnh phúc đều đến từ những ngành khoa học khác như: sinh lý học, xã hội học, kinh tế học… Các nhà nghiên cứu lúc này chủ yếu quan tâm các vấn đề như: nguồn gốc của hạnh phúc, cấu trúc của hạnh phúc, các yếu tố tác động đến hạnh phúc, ảnh hưởng của hạnh phúc đến cuộc sống cá nhân… Khi truy tìm nguồn gốc của hạnh phúc, một số nhà khoa học cho rằng con người cảm thấy hạnh phúc khi nhiều chất hóa học trong cơ thể tương tác với nhau. Năm 1872, nhà sinh vật học và bệnh lý học người Ý Camillo Golgi, đã phát hiện ra thành phần nền tảng nhất của não bộ là tế bào nơ-ron và cũng chính tế bào nơ-ron là tác nhân tạo ra cảm xúc. Đến năm 1954, hai nhà tâm lí học James Olds và Peter Milner, làm việc tại Đại học McGill ở Canada, đã thực hiện các thí nghiệm tiên phong của họ và khám phá ra “cơ chế” sản sinh ra hạnh phúc. Họ phát hiện ra rằng chuột sẽ liên tục nhấn đòn bẩy để nhận được những dòng điện nhỏ được truyền qua điện cực được cấy vào sâu trong 8 não của chúng.
Đặc biệt là khi sự kích thích này nhắm vào các khu vực nhất định trong vùng nhân não - khu vực có chức năng tạo ra những xung thần kinh khiến ta có cảm giác dễ chịu khi được thỏa mãn - chuột sẽ liên tục nhấn cần gạt, thậm chí lên tới 2000 lần mỗi giờ (Olds, 1956). Những phát hiện ấn tượng này dường như cho thấy Olds và Milner đã khám phá ra trung tâm khoái cảm trong não. Nghiên cứu trong hai thập kỷ tiếp theo đã xác định rằng dopamine là một trong những hóa chất chính hỗ trợ tín hiệu thần kinh ở những vùng này, và trong nhiều năm, dopamine được đề xuất là hóa chất khoái cảm của não bộ. Ngoài ra, còn có một vài hóa chất khác cũng góp phần tạo ra cảm giác hạnh phúc, như serotonin, oxytocin và endorphin – một loại morphine “tự nhiên” do cơ thể sản xuất… (Kringelbach và Berridge, 2010).
Như vậy, cho đến khoảng giữa thế kỷ thứ 20 thì các nghiên cứu về hạnh phúc chủ yếu tiếp cận vấn đề theo hướng sinh lý học, và nhiều bằng chứng đã cho thấy hạnh phúc được sinh ra từ não bộ, đồng thời còn có sự kết hợp của nhiều chất hóa học trong cơ thể. Mặc dù hạnh phúc rõ ràng là mối quan tâm cơ bản của con người, nhưng phải đến vài thập kỷ gần đây thì các ngành khoa học xã hội nói chung và ngành tâm lí học nói riêng mới thật sự quan tâm nghiên cứu chủ đề này. Tuy bắt đầu muộn, nghiên cứu về hạnh phúc đã tăng lên theo cấp số nhân trong những năm gần đây và kết quả của những nỗ lực này cho đến nay đang thực sự rất ấn tượng. Cuộc điều tra thực nghiệm đầu tiên về hạnh phúc là vào năm 1912 ở Anh trên khách thể là sinh viên và học sinh.
Cuộc điều tra chủ yếu tập trung vào mức độ trải nghiệm cảm xúc vui vẻ của khách thể. Trong những thập kỷ sau nhiều nghiên cứu tương tự ở Mỹ cũng đã được tiến hành trên khách thể là sinh viên. Sau Thế chiến II, số lượng các cuộc điều tra đã tăng lên và trọng tâm đã chuyển sang điều tra về mức độ hạnh phúc nói chung và trên mẫu đại diện cho toàn bộ dân số của quốc gia. Chỉ riêng trong giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1975, đã có 245 cuộc điều tra được ghi nhận (Veenhoven, 1984).
Nhìn chung, các công trình này tập trung vào việc cố gắng mô tả một cách phổ biến ai là người hạnh phúc. Trong một bài bình luận về các công trình nghiên cứu này, Warner Wilson đã mô tả “người hạnh phúc là một người trẻ, khỏe mạnh, có học 9 thức, được trả lương cao, hướng ngoại, lạc quan, không lo lắng, có tín ngưỡng, có gia đình, có lòng tự trọng cao, có tinh thần làm việc, có khát vọng khiêm tốn, có sự thông thái bất kể giới tính” (Wilson, 1967). Trong khi khảo sát về thực trạng hạnh phúc nói chung của con người, các tác giả cũng bắt đầu nhận thấy rằng “hạnh phúc” không phải là một khái niệm đơn nhất, mà có thể được chia thành các yếu tố cấu thành khác nhau. Ví dụ, Bradburn và Caplovitz đã thực hiện các cuộc khảo sát lớn và họ đã nhận thấy sự khác biệt giữa “cảm xúc tích cực” (possitive affect) và “cảm xúc tiêu cực” (negative affect) mà họ phát hiện được không phải là hai thái cực đối lập như mọi người vẫn nghĩ.
Bradburn và Caplovitz nhận thấy rằng hai loại cảm xúc này hình thành các kích thích riêng biệt và được gây ra bởi các yếu tố khác nhau (Bradburn và Caplovitz, 1965). Các cuộc điều tra lớn về hạnh phúc thường dựa trên phương pháp xã hội học, và do đó nhấn mạnh các yếu tố nhân khẩu học như thu nhập, giới tính, giáo dục, tình trạng hôn nhân và tuổi tác là có mối tương quan với hạnh phúc. Đồng thời, một số những nghiên cứu khác lại dựa trên các phương pháp xuất phát từ tâm lí học nhân cách. Ví dụ, Wessman và Ricks (1966) đã thu thập dữ liệu chuyên sâu về sinh viên Harvard, nghiên cứu tâm trạng của họ hàng ngày.
Trái ngược với các nghiên cứu khảo sát, nghiên cứu cổ điển này tập trung vào các yếu tố bên trong liên quan đến động lực mang tính tâm lí, chẳng hạn như cơ chế phòng vệ và đặc điểm tính cách (Diener, 2009). Vào năm 1998, đã diễn ra một sự kiện có thể được xem là bước ngoặt quan trọng trong tâm lí học nói chung, và trong nghiên cứu hạnh phúc nói riêng. Nhà tâm lí học người Mỹ Martin Seligman vào năm 1998, khi ông đang là chủ tịch của Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kỳ (APA), đã mời đến thành phố Akumal (Mexico) các nhà tâm lí học hàng đầu nước Mỹ để chia sẻ một mục tiêu mới của tâm lí học: nghiên cứu hạnh phúc. Trào lưu tâm lí học tích cực được xem như ra đời qua sự kiện này, mở ra một phân ngành mới của tâm lí học – tâm lí học tích cực, chuyên nghiên cứu định lượng về hạnh phúc, nhằm bổ sung, thay thế cho những lĩnh vực mà triết học, tôn giáo còn đang giải thích một cách rối rắm hoặc trừu tượng, hướng đến sự phát triển con người và hỗ trợ con người tận hưởng cuộc sống tích cực một cách trọn vẹn.
10 Khởi đầu sự nghiệp của mình như là một nhà tâm lí học, Seligman đã phát triển lý thuyết về sự bất lực học tập được (theory of learned helplessness), trong đó mô tả những phản ứng của một người khi người đó tin rằng hành động của mình là không có kết quả. Điều này đã dẫn ông đến khám phá một ý tưởng rằng nếu chúng ta có thể học cách bất lực, chúng ta cũng có thể học được cách lạc quan. Chính những nghiên cứu tiên phong này đã nhấn mạnh vai trò của quá trình nhận thức trong hạnh phúc của chúng ta. Trong sự nghiệp nghiên cứu hạnh phúc của mình, Seligman đã có rất nhiều cống hiến to lớn đáng được ghi nhận, một trong số đó là việc ông đã phát triển một cách sáng tạo quan điểm “cảm thụ lạc quan” (optimal experience) hay còn được gọi là lý thuyết FLOW, vốn đã được Mihaly Csikszentmihalyi đề xuất trước đó.
Lý thuyết FLOW cho thấy một khía cạnh năng động nội tại của tâm lí con người, thể hiện trong việc một người lĩnh hội những thử thách khó khăn cũng đồng thời phát triển những kỹ năng cá nhân tương thích. Sự năng động thể hiện ở chỗ nhận thức các thử thách khó khăn thúc đẩy sự phát triển các kỹ năng liên quan; đến lượt mình, sự phát triển năng lực lại khuyến khích cá nhân tìm kiếm những thách thức phức tạp hơn và sẽ đòi hỏi những khả năng cao hơn để giải quyết. Chu trình này thúc đẩy sự phát triển thông qua cả việc tiếp thu không ngừng các thông tin ngày càng phức tạp và hoàn thiện các kỹ năng trong các hoạt động và lĩnh vực cụ thể. Mặc dù chu trình này có thể xảy ra trong các hoạt động hoặc bối cảnh rất khác nhau của cuộc sống hằng ngày, như công việc, học tập, thể thao, nghệ thuật, thủ công và tương tác xã hội, nhưng chỉ ở trong những hoạt động đủ thách thức, phức tạp, đòi hỏi cá nhân phải phát huy các kỹ năng tương thích, huy động sự tập trung chú ý cao, thì mới có thể diễn ra chu trình FLOW.
Chính trong những hoạt động như vậy, những người tham gia khảo sát đã báo cáo về việc trải nghiệm sự thích thú, kiểm soát hoàn cảnh, cảm nhận được mục tiêu rõ ràng và có sự hài lòng nội tại. Do đó, hạnh phúc theo lý thuyết này, chính là “sản phẩm phụ” của các hoạt động sáng tạo (Compton và Hoffman, 2012). Nhìn chung, phải đến cuối thế kỷ 20 thì hạnh phúc mới được khoa học xã hội nói chung và tâm lí học nói riêng quan tâm một cách thích đáng. Tuy nhiên, một số thành quả quan trọng cũng cần được ghi nhận.
Trong nỗ lực ở giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu đã đi đến nhận định rằng hạnh phúc không phải là một khái niệm đơn nhất, mà được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau.