phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chương |: Cơ sở lý luận về cảm nhận hạnh phúc của thanh niên Phật tử Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CAM NHAN HẠNH PHÚC CUA THANH NIÊN PHẬT TỬ 1.1 Tổng quan nghiên cứu van đề Hạnh phúc là một khía cạnh phức tạp và đa chiều của cuộc sống con người, bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, tâm lý, và môi trường sống cụ thể của từng giai đoạn lịch sử. Với tính đa dạng và đa chiều của nó, hạnh phúc không bao giờ có một định nghĩa chung và tuyệt đối. Cảm nhận về hạnh phúc đã trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng và đa ngành, thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực, từ tâm lý học, triết học đến khoa học xã hội. Hanh phúc thường được định nghĩa như một trạng thái tinh thần tích cực, trong đó người ta cảm thấy hài lòng với cuộc sống và môi trường xung quanh họ.
Điều này có thé bao gồm sự hài lòng với bản thân, thỏa mãn về mặt cảm xúc và gắn kết về mặt xã hội mà họ tham gia. Tuy nhiên, vì con người trải qua nhiều biến động và nhiều yếu tố ảnh hưởng nên cảm nhận về hạnh phúc cũng thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh nhất định.1 Nghiên cứu về hạnh phúc Quan điểm sơ khai về HP theo các Nho gia ở phương Đông, điển hình là Không Tử và Mạnh Tử thì HP là lạc thú đạo đức, khát vọng đạo đức và sự trong sáng đạo đức, điều này đóng vai trò cơ bản trong hướng dẫn và đánh giá cuộc sông của một cá nhân. HP chủ yêu nằm ở niềm vui đạo đức, cuộc sông tốt đẹp là tất cả các mong muốn đều phải ràng buộc trong đạo đức. HP lớn nhất của một người không phải là đạt được quyên lực chính trị lớn nhất mà là nhận thức được sự trong sáng về mặt đạo đức của họ.
Đối với các nhà Nho giáo thì HP rất quan trọng, đóng vai trò quyết định dé đem lại một cuộc sống tốt đẹp. (Luo, 2019) Ở phương Tây, nhà Triết học Aristote nhận định HP thông qua tác phẩm Đạo đức học cua Nicomaque thì bản chất của HP bắt nguồn từ đức hạnh, đức hạnh phat sinh ra hạnh phúc. Ong cho rang: Sự hoạt động của tâm hồn thích hợp với đức hạnh; và nếu có nhiều đức hạnh, thì thích hợp với hạnh phúc tốt đẹp nhất và hoàn toàn nhất. Triết gia người Mỹ chuyên nghiên cứu kế thừa tư tưởng của Aristote, ông Mortimer Jerome Adler.
Trong tác phẩm Cùng suy nghĩ về những ý niệm lớn ông nhận định rằng, đã có nhiều Triết gia nổi tiếng đồng quan điểm với Aristote về HP như: “Pascal, nhiều thé ky sau nói, ‘Con người mong được hạnh phúc và chỉ mong được hạnh phúc và không thể không mong được như vậy, và mong hạnh phúc vì chính no.’ Và John Locke nói, ‘cai gì kích động những khao khát của chúng ta?’ ‘Hanh phúc,” ông trả lời, “hạnh phúc và chỉ điều đó thdi’. Nó là niềm vui tột bực mà con người đáng được hưởng”. Rồi cuối cùng mãi về sau này khi chúng ta đi xuyên qua vai thé kỷ, John Stuart Mill nói, ‘Hoc thuyết công lợi cho răng hạnh phúc là đáng khao khát và rằng thứ duy nhất đáng khao khát như cứu cánh chính là hạnh phúc, mọi thứ khác đáng khao khát chỉ là phương tiện.” (Adler, 2019) Những năm đầu thế kỉ XIX, một trong những đóng góp mang tính quyết định ảnh hưởng đến các công trình nghiên cứu HP ngày nay phải kế đến lĩnh vực Sinh lý, Y học. Các nghiên cứu, phát minh mang tính khoa học về thần kinh được thực hiện, các vấn đề liên quan đến não bộ được sáng tỏ.
Những phát hiện có giá trị về ngành phẫu thuật thần kinh đã đóng góp một phần rất quan trọng cho việc nghiên cứu về HP. Góp phần làm rõ hơn nguồn gốc HP và mở ra một kỉ nguyên mới cho các nghiên cứu hạnh phúc dựa trên khoa học. Phát hiện đầu tiên cho sự khám phá thần kinh năm 1873 của Bác sĩ, nhà khoa học người Ý Camillo Golgi đó là phương pháp nhuộm mô thần kinh. Phương pháp này dùng bạc nitrat nhuộm chọn lọc các tế bào thần kinh, quan sát dưới kính hiển vi có thé theo dõi cấu trúc của các tế bào thần kinh dé dàng.
Năm 1891, Santiago Ramon y Cajal, Bác sĩ người Tay Ban Nha đã dựa trên phương pháp nhuộm này để xây dựng “học thuyết nơ-ron”. Học thuyết này đã đem lại Giải Nobel Sinh lý và Y học năm 1906 cho Cajal và Golgi. Nghiên cứu mang 10 tầm ý nghĩa lớn cho các học thuyết hiện dai, trong đó nơ-ron là đơn vi cau tạo và chức năng của hệ thần kinh, có chức năng dẫn truyền xung thần kinh và xử lý thông tin. (Theodore H Bullock, 2005) Liên quan đến các chất hóa học bên trong não có thể kích hoạt hạnh phúc thì cuốn sách Habits of a Happy Brain: Retrain Your Brain to Boost Your Serotonin, Dopamine, Oxytocin, & Endorphin của Tac gia Loretta Graziano Breuning, một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu về các chất hóa học trong não liên quan đến cảm nhận hạnh phúc đã được xuất bản vào năm 2015.
Cuốn sách của bà cung cấp đơn giản nội dung về vai trò của các chất: serotonin, dopamin, oxytocin và endorphin. Từ đó huấn luyện não bộ trong vòng 45 ngày để việc kích hoạt các chất tạo ra HP dễ dàng hơn, tăng cảm giác hài lòng vào những lúc cần thiết. (Breuning, 2015) Nhằm phát huy nền tảng sẵn có, rất nhiều nghiên cứu về HP mở rộng ra các khía cạnh mới. Các nghiên cứu được tập trung đảo sâu các mối liên quan ảnh hưởng đến HP trong đời sống như: sức khỏe, tâm lý, văn hóa, tuổi thọ, tôn giáo.
Đồng thời cũng có rất nhiều bản thiết kế nhăm cải thiện HP được ra đời và áp dụng rộng rãi. Nhà xã hội học người Hà Lan, ông Ruut Veenhoven chuyên gia về nghiên cứu về hạnh phúc. Ông được xem là “cha đỡ đầu của các nghiên cứu về hạnh phúc”, ông cho rằng: “Hạnh phúc là phổ quát. Tất cả mọi người đều có xu hướng đánh giá mức độ họ thích cuộc sống mà họ đang sống và các điều kiện để được hạnh phúc là khá giống nhau.
Tuy nhiên, có một số khác biệt về văn hóa trong niềm tin về hạnh phúc. Hạnh phúc dựa trên sự thỏa mãn những nhu cầu pho quát, hơn là đáp ứng những mong muốn tương đối về mặt văn hóa. (Veenhoven, Is happiness relative?, 1991) Trong nghiên cứu Life is Getting Better: Societal Evolution and Fit with Human Nature nhằm khai thác mối quan hệ giữa HP va tuôi thọ. Day là nghiên cứu cắt ngang ở 143 quốc gia, kéo dài từ năm 2000-2008 này, Ruut Veenhoven II nhận thấy: “Hạnh phúc báo hiệu rằng chúng ta đang hoạt động tốt và vì lý do đó, hạnh phúc đi đôi với sức khỏe tốt, cả về tinh thần va thé chất.
Người hạnh phúc sông lâu hơn.” Robert Waldinger, Giám đốc Nghiên cứu Harvard về Phát triển Người trưởng thành, đã thực hiện nghiên cứu dài hơi theo chiều dọc trong 75 năm về hạnh phúc và sức khỏe. Nghiên cứu nay theo dõi 724 người trưởng thành từ các nghề nghiệp khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba điểm chính về hạnh phúc và sức khỏe con người: cô đơn có thê dẫn đến cái chết, chất lượng của các mối quan hệ gần gũi ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thê chất, và thiền định có thé mang lai sự hài lòng trong cuộc sống. Đồng thời ông khang định, khoa học và Phật giáo có cùng quan điểm cơ bản về giá trị hạnh phúc con người: “Thoát khỏi cái tôi nhỏ bé là nguồn gốc của sự mãn nguyện và ý nghĩa hạnh phúc”.
(Waldinger, 2015) Tại Việt Nam, thời gian gần đây cũng đã xuất hiện một số nghiên cứu về hạnh phúc, đã tiếp cận được nhiều van đề cơ bản trong xã hội. Những nghiên cứu này đã đóng góp vào việc hiểu sâu hơn về cảm nhận hạnh phúc ở cộng đồng Việt Nam và đã tạo ra những dấu vết mới trong cách tiếp cận và xây dựng đời song tinh than tốt hơn cho người dân Việt Nam. Hạnh phúc của người Việt Nam — Khái niệm, cách tiếp cận và chỉ số đánh giá của tác giả Lê Ngọc Văn là một trong những tác pham đầu tiên nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, nghiên cứu về quan điểm hạnh phúc, hạnh phúc trong đời thực và chỉ số hạnh phúc của người Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng Việt Nam là quốc gia mà người dân ở đây khá lạc quan và yêu đời.
Họ đánh giá tích cực về tất cả các lĩnh vực cơ bản trong cuộc sống, chỉ số hạnh phúc chung đạt mức tương đối cao 6,477 điểm (thang điểm 10). Mối quan hệ gia đình, họ hàng và cộng đồng xã hội vẫn chi phối mạnh mẽ đến hạnh phúc, mang tính quyết định hạnh phúc đối với người Việt Nam. Đây là nét thù, bản sắc của văn hóa Việt Nam trong quan điểm về hạnh phúc. 12 Nghiên cứu về Quan niệm hạnh phúc cua sinh viên tại Hà Nội do Lam Thanh Bình, nghiên cứu nhằm phác thảo cấu trúc HP theo quan niệm của sinh viên dựa vào một số xu hướng lý thuyết trên thế giới.
Đồng thời đặt nền tảng cho các nghiên cứu HP trong tương lai của người Việt Nam. Đối tượng tham gia là các 315 sinh viên từ ba trường đại học tại Hà Nội: Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Công đoàn và Học viện Phụ nữ. Kết quả thu được: Về mặt nghiên cứu lý luận cho thấy, HP chưa có phạm trù thống nhất về khái niệm, các khái niệm về HP có sự khác biệt tùy theo cách tiếp cận của tác giả. Có sự khác nhau về quan niệm HP giữa sinh viên thành thị và các vùng nông thôn.
Có sự khác biệt giới tính trong quan niệm HP giữa nam và nữ, về hạnh phúc tinh thần và vật chất. Phần lớn HP của sinh viên có mối quan hệ mật thiết với gia đình bên cạnh đó các em chú trọng đến hạnh phúc vật chat hơn tinh thần. (Lâm Thanh Bình, 2019) Nghiên cứu của Dương Hữu Hanh với nhan đề Tac động của yếu tổ Tâm lý đến hạnh phúc của người lao động tại Tp HCM nhằm tìm hiểu các mỗi liên quan giữa yếu tố tâm lý và HP. Đối tượng tham gia bao gồm những người lao động làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp HCM.
Kết quả cho thấy có sự khác biệt về HP liên quan đến trình độ học van, thu nhập, tôn giáo.