Chương I ống thông, nó làm hạn chế di chuyển ống thông và tạo ra một đường hầm kín giữa lớp da và khoang phúc mạc. ĐẠI CƯƠNG Năm 1968, Tenckhoff và Schechter kết hợp hai tính năng và thiết kế một ống cao su silicone với một nút chặn (cuff) ĐẠI CƯƠNG LỌC MÀNG BỤNG polyester để điều trị suy thận cấp tính và hai cuff để điều trị suy thận mạn tính. Đây là bước phát triển quan trọng nhất trong việc tiếp cận phúc mạc [41]. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, nhiều cải Phương pháp Lọc màng bụng (LMB) được một bác sĩ phẫu tiến đã được thực hiện để loại bỏ các biến chứng còn lại của thuật người Anh Christopher Warrick có ý tưởng đầu tiên áp ống thông Tenckhoff như nhiễm trùng chân ống (exit site) và dụng để điều trị thay thế cho người bệnh mắc bệnh thận mạn đường hầm, di lệch, tắc nghẽn ống, rò rỉ dịch lọc, tái phát viêm tính giai đoạn cuối vào năm 1740, nhưng phải đến những năm phúc mạc (VPM) và đau do áp lực dịch chảy vào ổ bụng [41]… cuối thập niên 1940, LMB liên tục mới bắt đầu được sử dụng Năm 1976, Robert Popovich và Jack Moncrief đã công bố thường xuyên hơn.
Các biến chứng nghiêm trọng xảy ra ở bản mô tả tóm tắt các nguyên tắc lọc màng bụng liên tục ngoại khoang phúc mạc đã tạo ra động cơ để phát triển các phương trú (CAPD). Năm 1978 Popovich công bố kết quả đầu tiên về pháp can thiệp đặc biệt cho LMB. sử dụng CAPD và Dimitrios Oeopolous ở Toronto giới thiệu túi Vào những năm 1950, người ta đã áp dụng một số kỹ thuật nhựa PVC thay cho chai thủy tinh để chứa các dialysate. Trong chọn lọc trong LMB liên tục; Polyethylene và ống thông nhựa năm 1979, để giảm tỷ lệ VPM, Karl Nolph, ở Missouri, giới đã trở nên phổ biến và LMB được xem như một phương pháp thiệu các kết nối titan ánh sáng.
hữu hiệu trong điều trị suy thận cấp tính. Điều này đã tạo ra sự phát triển vượt bậc trong ứng dụng các Đến những năm 1960 đã có những đột phá lớn trong lĩnh kỹ thuật LMB. Trong năm 1977 tại Châu Âu không có đơn vị vực LMB. Trước hết, người ta đã phát hiện ra cao su silicone ít chạy thận nào cung cấp người bệnh để làm CAPD, nhưng đến năm gây kích ứng phúc mạc hơn các loại nhựa khác.
Sau đó, việc 1979 đã có gần 160 trung tâm LMB (Jacobs, 1981) [41]. tìm thấy polyester và sử dụng chất này làm vòng bít đã cho phép nó xâm nhập tuyệt vời vào trong mô tạo ra một liên kết Từ khi CAPD được đưa vào ứng dụng cách đây gần ba thập chắc chắn với các mô. Khi một vòng bít polyester được dán vào kỷ, phương thức này ngày càng trở nên phổ biến, chủ yếu do tính đơn giản, thuận tiện và chi phí tương đối thấp. Tính đến 17 18 2003, Hồng Kông và Mexico là hai quốc gia có tỉ lệ người bệnh viện Nhi Trung ương).
Vào những năm 1997, phương pháp áp dụng phương pháp LMB để điều trị thay thế thận cao nhất LMB với catheter thẳng một cuff và hệ thống túi đơn (BBraun) thế giới, trên 80% người bệnh suy thận mạn tính giai đoạn cuối. lần đầu tiên được đưa vào áp dụng điều trị thay thế cho người Tỉ lệ người bệnh ở những nước Tây Âu (Anh, Hà Lan, Thụy bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối nhưng vẫn còn một số nhược Sĩ), Châu Á (Singapore và Hàn Quốc), Australia và Canada điểm nên chưa thực sự phát triển. Tại hầu hết những nước rất phát triển như Mỹ, Kỹ thuật LMB thực sự phát triển và được triển khai rộng rãi Đức và Nhật cũng như những nước đã phát triển khác, tỉ lệ khoảng từ năm 2004 khi hệ thống túi đôi (Baxter) đưa vào Việt người bệnh CAPD rất thấp, chiếm khoảng 10% và tỉ lệ này thấp Nam cùng với Catheter Tenkoff đã làm giảm đáng kể các biến nhất ở các nước kém phát triển, nơi mà dân số được lọc máu rất chứng. Hiện nay có 28 trung tâm LMB trên phạm vi cả nước.
Hiện nay, CAPD vẫn đang phát triển ở nhiều nước Châu Á và Tây Âu, phát triển nhanh nhất là ở Trung Quốc và Ấn Độ, II. ĐẠI CƯƠNG với 20% mỗi năm trong những năm qua. Định nghĩa có 712 người bệnh thì năm 2005 có tới 6000 người bệnh CAPD. Tính đến năm 2005 tại Hàn Quốc đã có 25 năm phát triển LMB (thẩm phân phúc mạc) là phương pháp sử dụng chính CAPD, sự sống còn của người bệnh và kỹ thuật LMB đã có màng bụng của người bệnh làm màng lọc thay thế cho thận suy, nhiều cải thiện trong khi tuổi, bệnh tim mạch và đái tháo đường để lọc các chất chuyển hoá, nước điện giải ra khỏi cơ thể người (ĐTĐ) đi kèm tăng lên ở quần thể này [3].
Hiện nay tại Hồng bệnh và giúp cân bằng nội môi. Kông 80% người bệnh suy thận mạn tính giai đoạn cuối được lọc máu để duy trì cuộc sống bằng phương pháp LMB chủ yếu 2. Cơ chế là CAPD, còn lại 20% được chạy thận nhân tạo (TNT). Ở Thái Màng bụng là thanh mạc bao phủ khoang bụng.
Màng bụng Lan, LMB là chỉ định đầu tiên để điều trị thay thế cho người được chia thành hai phần: lá tạng che phủ ruột và các tạng bệnh suy thận mạn tính giai đoạn cuối [2]. khác, và lá thành che phủ thành bụng. Màng bụng có diện tích Tại Việt Nam, từ những năm 1970 LMB cấp cứu bằng dịch bề mặt gần bằng diện tích bề mặt cơ thể và thông thường dao tự pha chế đã được áp dụng để điều trị suy thận cấp người lớn động từ 01 - 02m2 ở người lớn. Bình thường, khoang ổ bụng với catheter thẳng tại bệnh viện Bạch Mai, những năm 1983 chứa khoảng 100ml dịch sinh lý và có thể chứa tới 2 lít dịch LMB cấp cứu với dung dịch tự pha chế Abottci sử dụng cho bệnh nhi tại Viện Bảo vệ sức khỏe Trẻ em (tiền thân của Bệnh 19 20 LMB hay nhiều hơn mà không gây khó chịu hoặc ảnh hưởng Sức kháng của màng bán thấm: Màng bụng dày, xơ (do chức năng hô hấp.
quá trình LMB kéo dài lâu năm) khả năng khuyếch tán sẽ giảm. Nguyên tắc LMB là sử dụng màng bụng như một màng bán Ngoài ra cơ chế siêu lọc do sự chênh lệch áp lực thẩm thấm ngăn cách giữa hai khoang, một bên là các mao mạch thấu giữa dịch LMB và mạch máu phúc mạc là cơ chế chính quanh màng bụng và một bên là khoang bụng chứa dịch LMB. trong việc lấy bỏ nước từ mạch máu màng bụng ra ngoài khoang Trong thời gian dịch LMB lưu trong khoang bụng, ba quá trình phúc mạc, nước sẽ thẩm thấu từ khoang máu vào khoang phúc vận chuyển đồng thời xảy ra: Khuyếch tán, siêu lọc và hấp thu. mạc, đây cũng là cơ chế nhằm loại bỏ nước của kỹ thuật này.
Lượng thẩm tách đạt được và mức độ loại bỏ dịch tùy thuộc thể Nồng độ glucose trong dịch LMB cho áp lực thẩm thấu dịch tích dịch LMB đưa vào (gọi là dịch lưu), tần suất dịch LMB lọc khác nhau và quyết định thể tích dịch được siêu lọc khác nhau. được trao đổi và nồng độ chất thẩm thấu hiện hữu. Khả năng đào thải urê qua mạch máu màng bụng 15- Vai trò của LMB là giúp loại trừ các chất chuyển hóa; kiểm 30ml/phút. soát lượng nước và điều hòa các chất điện giải trong cơ thể.
Có Khả năng đào thải creatinin qua mạch máu màng bụng 10- 2 hình thức: 15ml/phút. LMB liên tục ngoại trú (CAPD): Thực hiện liên tục 24 giờ Một số yếu tố ảnh hướng đến tốc độ khuyếch tán: và 7 ngày trong một tuần. Người bệnh tự thay dịch lọc 4-5 Chênh lệch nồng độ giữa hai khoang: Quá trình khuyếch lần/ngày. tán sẽ giảm dần và đạt đến độ bão hoà khi nồng độ các chất hoà LMB chu kỳ tự động (APD): Việc lọc được thực hiện tại tan giữa hai khoang bằng nhau, như vậy khả năng đào thải của nhà với sự trợ giúp của máy tạo ‘chu kỳ’ giúp trao đổi dịch lọc một chất từ các mao mạch máu vào khoang dịch lọc ổ bụng sẽ khi ngủ.
Máy tự động thay dịch chu kỳ 4 - 5 lần/đêm. Lần thay giảm dần theo thời gian lưu dịch lọc trong ổ bụng. dịch mới về sáng sẽ được giữ lại trong ổ bụng. Tốc độ máu tại mao mạch màng bụng ở người có huyết áp bình thường từ 70-100ml/phút.
Tốc độ máu càng cao quá trình III. CÁC PHƯƠNG PHÁP LỌC MÀNG BỤNG khuyếch tán càng lớn. Người có huyết áp thấp, lưu lượng máu qua phúc mạc giảm, quá trình khuyếch tán cũng giảm. Hai phương thức LMB đang dùng rộng rãi hiện nay là LMB Trọng lượng phân tử các chất hoà tan càng nhỏ, khả năng liên tục ngoại trú (Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis – vận chuyển khuyếch tán càng lớn và ngược lại.
CAPD) và LMB tự động hóa (Automated Peritoneal Dialysis – APD). Việc chọn điều trị bằng phương thức nào tùy vào điều 21 22 kiện của từng người bệnh (lối sống, nghề nghiệp, nơi cư trú, sự hỗ trợ của gia đình và xã hội…) cũng như đảm bảo được lọc máu qua màng bụng đủ liều. Lọc màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD) Trong CAPD, dịch lọc luôn hiện diện trong khoang phúc mạc của người bệnh. Thông thường dịch được thay đổi 4 lần trong ngày, và dao động từ 3 đến 5 lần tùy vào tình trạng bệnh của từng người bệnh.
Dẫn lưu dịch đã ngâm và cho dịch mới vào được thực hiện bằng tay, dưới tác dụng của trọng lực để đưa dịch vào và ra khoang phúc mạc. Các giai đoạn trao đổi dịch: Giai đoạn 1: Đưa dịch vào. Cho dịch chưa lọc vô trùng vào ổ bụng qua catheter. Giai đoạn 2: Ngâm dịch.
Dịch được ngâm trong ổ bụng từ 4-6-8 giờ tùy nồng độ dịch. Giai đoạn 3: Xả dịch ra. Dịch đã ngâm được xả ra ngoài, dịch chảy tự nhiên dưới tác dụng của trọng lực. Sau khi xả hết Hình 1.
Các giai đoạn trao đổi dịch: kết nối catheter, dịch đã ngâm, bắt đầu lại giai đoạn 1. xả dịch đã ngâm, cho dịch mới vào Với thao tác đơn giản, chi phí tương đối thấp, và không bị Bất lợi chính của CAPD đối với nhiều người bệnh là cần ràng buộc với máy lọc máu khiến CAPD trở thành phương thức thực hiện nhiều lần qui trình (thường 4 lần mỗi ngày), mỗi lần LMB phổ biến nhất ở các nước đang phát triển. cần từ 30-40 phút. Yêu cầu về điều kiện vệ sinh khi thay dịch và thời điểm thực hiện trao đổi dịch làm hạn chế phần nào hoạt động thường nhật của người bệnh.