MỤC LỤC PHẦN THỨ NHẤT. 3 I - GIỚI THIỆU Sơ LƯỢC VÈ LÍ LUẬN VĂN HỌC. 3 II - MỘT SÓ KIẾN THỨC LÍ LUẬN VẦN HỌC CẢN LƯU Ý. Văn bản văn học và tác phẩm văn học.
Đặc điểm của tác phẩm văn học. Đặc điểm về ngôn từ. Đặc điểm về hình tượng. Đặc điểm về ý nghĩa.
Đặc điểm về cá tính sáng tạo của nhà văn. Chức năng của văn học. Chức năng giáo dục. Chức năng nhận thức.
Chức năng thấm mĩ. Chức năng giao tiếp. Thể loại tác phẩm văn học. Tác phẩm trữ tình.
Tác phẩm tự sự. 32 HI - CÁCH ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI VIẾT. Cách đưa Lí luận văn học vào bài viết. Một số gọi ý về cách vận dụng Lí luận văn học vào bài viết.43 PHÀN THỨ HAI.48 I- TONG HỢP CÁC NHẬN ĐỊNH VĂN HỌC ĐẶC SẮC.
100 câu nhận định lí luận văn học về văn xuôi. 80 nhận định về thơ. Nhận định về chức năng của Văn học. Nhận định về nghề văn, nhà văn, quá trình sángtạo và phong cách.
Nhận định về văn học và hiện thực cuộc sống. Quan niệm về văn chuông của các nhà văn, nhàtho'. 70 II - CÁCH ĐƯA NHẬN ĐỊNH VẤN HỌC VÀO BÀI VIẾT (dành riêng cho lóp 12). Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh.
Tây Tiến - Quang Dũng. Việt Bắc - Tổ Hữu. Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm. Sóng - Xuân Quỳnh.
Đàn ghi ta của Lor-ca. Người lái đò sông Đà. Ai đã đặt tên cho dòng sông. Vọ’ chồng A Phủ.
Rừng Xà nu. Chiếc thuyền ngoài xa. Những đứa con trong gia đình. Hồn Trương Ba, da hàng thịt.
104 III - NHỮNG CHÚ Ý KHI ĐƯA NHẬN ĐỊNH VĂN HỌC VÀO BÀI VIẾT.ỉ 05 PHẨN THỬ NHẤT LÍ LUẬN VẨN HỌC I - GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC Theo cuốn Bản chất và đặc trưng văn học (LLVH tập 1) của thầy Trần Đình Sử, Lí luận văn học được hiếu là một bộ phận của khoa học nghiên cứu văn học, là khoa học chuyên nghiên cứu các quy luật chung của hoạt động văn học, trong đó bao gồm sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội-thẩm mỹ của văn học, đồng thời xác định phương pháp lý luận và phân tích văn học. Mục đích của lý luận văn học là để bàn về các vấn đề, tính đặc trung của văn học có ảnh hưởng như thế nào đen con người và xã hội, V. Ngoài ra, kiến thức Lí luận văn học cũng sẽ giúp chúng ta trả lời cho các câu hỏi văn học một cách ngắn gọn và cụ thể như: văn học bắt nguồn từ đâu? Chức năng của văn học?. Chung ta cũng cần biết rằng,.thân các nhà văn, nhà thơ cũng thường sẽ nghiên cứu các hiện tượng văn học để nêu lên tính khái quát bằng những thuật ngữ, luận điểm về các quy luật của văn học.
Nhờ sự nghiên cứu ấy, khi họ kể những câu chuyện, tâm tư, tình cảm,. lên trang văn, người đọc và người nghe các tác phẩm văn học sẽ có thế lí giải được một cách sâu sắc và rõ ràng nhất bản chất của các hiện tượng văn học. Phạm vi của Lí luận văn học ngày nay bao gồm các bộ phận sau: Bản chất, đặc trưng của văn học (Văn học là một hình thái ý thức thẩm mỹ; mối quan hệ giữa vãn học và đời sống con người; văn học - nghệ thuật ngồn từ; quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ; tiếp nhận, phê bình và thưởng thức văn học; chức năng của văn học) Cấu tạo của tác phẩm và thể loại Quá trình sáng tác Tiến trình phát triển của văn học Sự tiếp nhận vãn học Với phạm vi nghiên cứu như.cầmđ<ặc4hmGủưphâninên vLí luận-văư-học cũng phải chỉ rõ các mối quan hệ rộng lớn giữa văn học, thời đại, lịch sử, chính trị, văn học, dân tộc, nhân loại. Vì thế, đối với học sinh THPT, việc hiổu và vận dụng kiến thức Lí luận văn học trong nhà trường đôi khi còn nhiều khó khăn.
Các em nghĩ Lí luận văn học là những kiến thức cao siêu, khỏ mà hièu được, nên ngay từ khi chưa học tập, tìm hiếu vấn đề này mà đã vấp phải một trở ngại lớn về tâm lí. Nhằm mục đích mang đến cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về Lí luận văn học và cách vận dụng những kiến thức này vào bài làm văn cụ thể, cuốn sách sẽ chỉ đề cập đển những vấn đề gần gũi với học sinh phổ thông. Thêm một điều đặc biệt từ cuốn sách này, bên cạnh những kiến thức lí thuyết có sằn, nhóm biên soạn còn đưa nhiều ví dụ cụ thể, gần gũi với học sinh THPT để các em hiểu được cặn kẽ và có hệ thống các vẩn đề liên quan đến Lí luận văn học, cà trong và ngoài nước. Cuốn sách hy vọng sẽ là cẩm nang hữu ích trong hành trình chinh phục điểm 9+ Ngữ văn cùa các em! II - MỘT SỐ KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC CẦN LƯU Ý 1.
Văn bản văn học và tác phẩm văn họe y Văn bản văn học còn gọi là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương. Văn bản văn học đi sâu vào phản ánh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tinh cảm, tư tường, thoả mãn nhu cầu hướng thiện và thẩm mĩ của con người. Có thể hiếu văn bản văn học theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo cuốn Bản chai vả đặc trưng văn học (LLVH tập ỉ) của thầy Trần Đình Sử, văn bân văn học được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các văn bân sử dụng ngôn từ môt cách nghệ thuật.
Theo nghĩa này thì không chi văn bản thơ, truyện, kịch mà cả các văn bân hịch, cáo, chiếu, biểu, sử kí,. đều cỏ thể coi là văn bản văn học. Khổng Tữ đã từng hiểu “văn” là lĩnh vực tri thức, “văn học” là một khoa trong “tứ khoa”, bên cạnh đức hạnh, ngôn ngữ và chính sự. Vậy nên, theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sảng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu, tưởng tượng như sừ thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, kịch,.
Trong chương-trì nh--THP-T, bên cạnh-việc học các văn bân văn học theo nghĩa hẹp, học sinh sẽ học cà các văn bản văn học theo nghĩa rộng. Như vậy, dù hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, chúng ta cũng cần chỉ ra ba tiêu chí chủ yểu của văn bản vãn học: ■ Tiêu chí 1: Văn bàn văn học đi sâu vào phản ánh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng, thoả mãn nhu cầu hướng thiện và thẩm mì của con người. Ví dụ: Đọc bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, chúng ta suy nghĩ để tìm kiếm lòi giải đáp cho các câu hỏi như: Tình yêu thực sự là gì? Hạnh phúc là gỉ? Làm thế nào đe giữ niềm tin, sự thủy chung trong lình yêu,. Đó chính là mong muon khám phá thế giới tỉnh cảm của con người.
Bên cạnh đó, việc hướng đến một tinh yêu chân thành, chung thủy và cao đẹp cũng là một trong những giá trị thẩm mĩ và hướng thiện mà người đọc cảm nhận được từ bài thơ này. " Tiêu chi 2: Ngôn từ của văn bân văn học là ngôn từ nghệ thuật cỏ hình tượng, mang tính thẩm mĩ cao, trau chuốt biểu câm, gợi cảm, hàm súc, đa nghĩa. Ví dụ: ờ Sóng - Xuân Quỳnh, hai hình tượng sóng và em là hai hình tượng có tính chất song hành, lúc tách đôi nhưng lúc lại hòa nhập. Qua hai hình tượng đó, nữ thi sĩ mang đến cho người đọc những cảm nhặn VC một tình 'yêu đẹp cùa người con gái: Yêu chân thành tha thiết, nồng nhiệt và thủy chung.
Tinh yêu trẻ trung ấy là khát vọng VC một hạnh phúc trọn vẹn cũa đôi lứa. " Tiêu chí 3: Mồi văn bản đều có một thể loại nhất định và theo quy ước cách thức thể loại đó (Kịch có hồi, cảnh, cỏ lời đổi thoại - độc thoại; Thơ có vần, điệu, luật, khổ thơ. Ví dụ: Bài thơ Sóng thuộc thể loại thơ trữ tình; thể thơ ngũ ngôn liền mạch; được phân chia thành 9 khố và mang những đặc sắc ở ngôn tù', hình ảnh trong sáng bình dị, giọng thơ phong phú, vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính,. Thêm một điều mà chúng ta cần lưu ý, khi nhắc đến hai khái niệm văn bàn văn học và tác phẩm vấn học, đó lả: Nhà văn sáng tác ra văn bản văn học - một hệ thống kí hiệu tồn tại khách quan.
Khi nằm im trên giá sách, vãn bản là một tập giấy có chữ, chưa thể nói đến tác động của nó đối với xã hội. Chỉ có thông qua việc đọc, hệ thống kí hiệu ấy mới hiện lên trong tâm trí người đọc những sự việc, những hình tượng nhân vật, những suy nghĩ vui buồn của con người và cuộc đời. Khi đó, những giá trị văn học vốn tiềm ẩn trong văn bản sẽ được người đọc tiếp nhận. Đến lúc ấy, văn bản văn học mới trở thành tác phẩm văn học.
Như vậy, văn bản văn học chỉ có một nhung tuỳ vào độ tuổi, sở thích, vốn sống, vốn văn hoá,. người đọc sẽ tiếp nhận văn bản văn học theo những cách khác nhau, dẫn đển việc từ một văn bản văn học, nhiều tác phẩm văn học được sinh thành trong tâm trí người đọc. Như Viên Mai từng nói, “Thơ văn quý ở chỗ cong”. Nét “cong” ấy, phải chăng là sự đa nghĩa, hàm súc của bản thân ngôn từ mà tác giả sáng tạo nên; và cũng là sự đồng cảm - đồng sáng tạo, thau hiểu theo nhiều cách từ bạn đọc? Đe hiếu hon về quá trình tiếp nhận vãn học và việc đánh giả cái hay - dở của một tác phẩm, chúng ta có thể tham khảo các hiểu một bạn học sinh lóp ỉ 1 về vấn đề này như sau: “Trong'“Tùy~viên thrthoại”,'Viên Mai từng kể, Lỳ Phi đời Đường cho thơ Bạch Cư DỊ là dâm, diễm, phóng túng, cuối cùng, người đời sau chỉ biết cỏ Bạch mà chả hề nhắc tới tên họ Lý năm nào.
Mọi tác phẩm muổn đi theo năm thảng, muốn trường tồn với nhân gian, phải có sự giúp đỡ của người đọc. Người đọc là đối tượng mà văn học cần truyền tải và cũng là con thuyền giúp nhà vãn đi qua những bão giông, úa tàn của vô thường, của vũ trụ. Dầu vậy, vấn đề tiếp nhận vần còn là một cầu chuyện nan giải, chưa có hồi kết. Vì thị hiểu thẩm mỹ cùa mỗi người người rất khác nhau, cảm xúc thấm mỹ lại thay đổi theo thời đại.
Một tác phẩm bị quên lãng vào thời đại mà nó sinh ra, lại có thể bùng lên ngọn lừa vào những thế kỉ sau.