Chương 1: Tình hình xã hội và thơ ca Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI - Chương 2: Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI - Chương 3. Phương thức thể hiện trong thơ mười năm đầu thế kỷ XXI. 7 NỘI DUNG Chƣơng 1. TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ THƠ CA VIỆT NAM MƢỜI NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 1.
Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XXI Mười năm đầu của thế kỉ XXI đã đi qua, trong khoảng thời gian đó, xã hội Việt Nam đã có nhiều chuyển biến quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn học. Những năm đầu thế kỷ XXI, mặc dù thế giới có nhiều biến động bất ổn nhưng nước ta vẫn giữ được ổn định chính trị - xã hội, kinh tế tiếp tục tăng trưởng. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình trên thế giới. Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1 năm 2011), trong giai đoạn từ 2001 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của nước ta đạt 7,26%/năm; tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế gấp 3,26 lần so với năm 2000.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hóa thành luật pháp, cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá và các lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ. Vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng.
Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Mười năm qua cũng đánh dấu quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ của nước ta tiêu biểu là sự kiện gia nhập WTO vào năm 2006. Giao lưu văn hoá phát triển, văn học nói chung và thơ ca nói riêng được tiếp cận với những trào lưu nghệ thuật hiện đại của thế giới. Với sự phát triển của các phương tiện thông tin truyền thông, đặc biệt là mạng Internet, tác phẩm văn học dễ dàng 8 đến với công chúng, đời sống văn học trở nên phong phú, sôi nổi hơn.
Internet đã thay đổi cách viết - công bố - đọc - nghĩ - cảm của người sáng tác lẫn người đọc. Qua các website, blog cá nhân, các tác giả tự do trình bày những thử nghiệm mới, từ đó ra đời những khuynh hướng, trào lưu mới trong văn học. Có một sự thật là: số lượng người in sáng tác và đọc trên mạng là rất lớn, vượt trội so với văn chương giấy và ngày càng tăng; các cuộc luận bàn sôi nổi về văn chương cũng phần lớn diễn ra ở trên Internet. Bên cạnh đó, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất ổn.
Đầu thế kỷ XXI, thế giới lâm vào một cuộc suy thoái kinh tế có quy mô toàn cầu; ảnh hưởng bởi điều đó tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước giảm sút rõ rệt. Thảm họa thiên tai do khí hậu biến đổi diễn ra thường xuyên hơn, mức độ tàn phá khủng khiếp hơn không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới khiến loài người phải thực sự suy nghĩ nghiêm túc về sự tồn vong của mình. Hội nhập quốc tế cũng làm nảy sinh nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống trước sự xâm thực của văn hóa ngoại lai. Cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, tình hình biển Đông trở nên vô cùng căng thẳng, chủ quyền biển, đảo của nước ta bị đe doạ bởi các thế lực bành trướng… Tất cả những vấn đề xã hội đó có tác động không nhỏ đến cảm hứng chủ đạo trong thơ Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI.
Đời sống thơ ca mƣời năm đầu thế kỷ XXI 1. Cách tân là vấn đề cấp thiết của thơ ca Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều người đã nói đến sự “khủng hoảng thơ”. Có một nghịch lý là số lượng người viết thì đông lên, đông như chưa từng có, còn người đọc thì giảm đi trông thấy, trên rất nhiều chỉ số. Dường như người làm thơ và người đọc thơ hôm nay ít có tiếng nói chung.
Thơ có sự bùng nổ. chỉ có điều là bùng nổ về số lượng chứ không phải về chất lượng. Thơ in tràn lan, ước tính mỗi năm có khoảng bảy trăm tập 9 thơ ra đời, nhưng chẳng có mấy tập thơ gây được tiếng vang. Nói một cách công bằng thì hiện nay không phải là không có thơ hay.
Có điều thơ hay, thơ sâu sắc thường rất hiếm. Thơ hay hôm nay vừa hiếm lại vừa bị chen lấn, bị khuất lấp, bị đánh đồng với thơ dở. Nó tựa nụ hoa tí xíu trong đám cỏ rậm rạp của những phế liệu, cần những con mắt công tâm và tinh tường của nhà phê bình, gạn ra tinh tuý từ những phế liệu ngổn ngang kia. Cũng có người cất công quyết “đãi cát tìm vàng”, đó là Nguyễn Việt Chiến với công trình Tuyển thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 - 2005 xuất bản tháng 12/2007.
Đây là một hợp tuyển thơ đáng để đọc nhưng không hiểu sao cho đến nay công chúng không mấy ai quan tâm. Có phải là khâu quảng bá của tác phẩm kém hay tại bởi một nguyên nhân khác là thơ đang bị “lép vế” trước những phương tiện nghe nhìn đang ngày càng hiện đại? Thơ bị mất giá cũng là tình trạng chung ở các quốc gia khác. Hiện nay, văn học của hầu hết các nước trên thế giới đang chứng kiến một hiện tượng gần như có thể gọi là sự khủng hoảng của thơ. Người ta đã dùng những từ ngữ như “hoang mạc thơ”, “thơ là món hàng ế ẩm” hay “nhà thơ thất nghiệp”.
Thơ ư, chẳng có mấy người đọc. Các nhà xuất bản chẳng còn hào hứng bỏ vốn ra để in thơ. Các tác phẩm thơ hiện nay phần lớn là do tác giả tự bỏ tiền túi ra để in. Còn tác giả có tác phẩm được chọn in trong những hợp tuyển thơ sẽ được trả nhuận bút bằng… sách! Câu hỏi đặt ra là “liệu thơ có nên còn tồn tại trong cuộc sống hôm nay?” Nhà phê bình văn học đương đại Đức Macel Reich Ranicky nói một cách bi quan: “Xin cứ nói thẳng: Thơ ư, có cần thật không? Hàng triệu người sống không cần thơ có sao đâu? Họ chẳng biết gì đến thơ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc.
Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ, và có đủ lý do để nhắc nhở ta hãy coi chừng nó.” Ý kiến của Macel Reich Ranicky rõ ràng đã hơi quá. Chúng tôi cho rằng thơ là một nghệ thuật luôn luôn cần thiết cho loài người, nói như 10 Hoài Thanh “… từ bao giờ đến bây giờ, từ Homère đến Kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” [75, tr.
Vấn đề là ở chỗ làm sao để thơ “chạm” đến được đời sống tinh thần của xã hội hôm nay, để theo kịp nhu cầu của bạn đọc. Thơ phải cách tân, đó là vấn đề sống còn của thơ! Cách tân thơ không chỉ là là đòi hỏi từ thực tiễn đời sống mà còn từ chính nhu cầu nội tại của thơ. Thơ là một nghệ thuật mà nghệ thuật đồng nghĩa với sự sáng tạo. Thế nhưng lối viết theo kiểu thơ Mới ra đời cách đây gần một thế kỷ vẫn còn ảnh hưởng đến tận bây giờ, thậm chí có nhà thơ còn cho rằng thơ hiện nay chỉ là vệt kéo dài của thơ Mới.
Không ai phủ nhận những thành tựu đột phá của thơ Mới đối với văn học dân tộc, nhưng cái hay lặp đi lặp lại mãi cũng nhàm. Có một thực tế là những bài thơ giọng điệu đều đều, du dương không còn thu hút được nhiều độc giả hiện nay. Xã hội thay đổi, nhu cầu thẩm mĩ cuả con người cũng thay đổi, thơ cũng cần thay đổi để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới ấy. Theo những điều tra xã hội học của nhóm nghiên cứu đề tài Công chúng và giao lưu quảng bá văn học thời kỳ đổi mới do PGS.
Tôn Thảo Miên làm chủ nhiệm (Viện Văn học - 2011), sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng về mặt đề tài, chủ đề được thể hiện khá cụ thể. Các đề tài, chủ đề được nêu ra nhằm khảo sát thị hiếu của công chúng như đề tài chiến tranh, nông thôn, tình yêu, hôn nhân, lịch sử, dã sử, trinh thám, viễn tưởng, kinh dị… đã giúp minh định những diễn trạng thị hiếu thẩm mĩ trong đời sống văn học. Kết quả điều tra ngẫu nhiên trên 636 đối tượng tại Hà Nội đã cho thấy 65.9% số người được hỏi đã chọn đề tài hôn nhân, tình yêu cho sự đọc của mình. Các đề tài tiếp theo cũng minh chứng một sự chuyển dịch trong thị hiếu thẩm mĩ của công chúng: đề tài chiến tranh 37.1%, đề tài nông thôn 37%, lịch sử 31.
11 Các tác phẩm hướng tới giá trị tư tưởng cao, mang tầm vóc nhân văn, nhân bản thu hút được 69.1% số đối tượng tham gia khảo sát. Tiếp sau đó, các tác phẩm đề cao tính nghệ thuật cũng thu hút được tới 50.2% công chúng. Các chủ đề khác như tâm linh, vô thức thu hút 41.3%, trào phúng 38. Các số liệu trên cho thấy công chúng ngày nay chuộng những vấn đề thuộc về cuộc sống thường ngày như gia đình, tình yêu,.
chứ không phải những vấn đề mang tầm vóc lớn như dân tộc, nhân loại. Công chúng cũng rất quan tâm đến giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đòi hỏi tác phẩm vừa phải có tính nghệ thuật cao và phải mang giá trị nhân văn, nhân bản. Điều này vừa định hướng phát triển cho thơ, vừa là thách thức đối với các nhà thơ hiện nay. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, chúng ta thấy rõ thơ có sự phát triển nhanh chóng về lực lượng sáng tác.
Thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong thời chống Mỹ như Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Ý Nhi, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh có nhiều đổi mới trong giọng điệu và bút pháp. Tiếp đó là những nhà thơ trưởng thành sau 1975 như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trần Tiến Dũng, Trần Anh Thái, Hoàng Trần Cương,. rất sung sức và khát khao sáng tạo.