Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng vi phạm pháp luật và tội phạm về môi trường tại Việt Nam đang diễn biến ngày càng phức tạp trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng. Theo thống kê của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013, cả nước đã phát hiện 39.962 vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường với hàng chục nghìn cá nhân và tổ chức liên quan. Tuy nhiên, số vụ án được chuyển cơ quan điều tra khởi tố chỉ đạt 846 vụ với 1.182 bị can, chiếm tỷ lệ chưa đầy 2,2% tổng số vụ vi phạm được phát hiện.

Tại địa bàn thành phố Hà Nội, sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008 với diện tích hơn 3.000 km2 gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành, áp lực môi trường gia tăng đột biến. Thành phố tập trung 8 khu công nghiệp, 41 cụm công nghiệp, 1.350 làng nghề, 592 cơ sở y tế cùng 11.041 doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn là làm sáng tỏ sự tương phản sâu sắc giữa quy mô vi phạm môi trường rất lớn trong thực tế với số lượng vụ án hình sự được đưa ra xét xử vô cùng ít ỏi.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tội phạm môi trường, phân tích thực tiễn 6 năm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2013, xác định rõ các rào cản lập pháp và nguyên nhân tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn nhằm nâng cao tỷ lệ xử lý tội phạm môi trường, tạo cơ sở khoa học để sửa đổi 10 điều luật trong Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 1999 và xây dựng quy chuẩn kỹ thuật phục vụ công tác giám định tư pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, kết hợp chặt chẽ với các định hướng cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước. Khung lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam được sử dụng làm mô hình phân tích chủ đạo, xem xét 4 yếu tố cấu thành bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm môi trường.

Về mặt khái niệm, luận văn làm rõ 3 nội dung trọng tâm:

  1. Tội phạm môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, xâm phạm đến trật tự quản lý và an ninh sinh thái.
  2. Khách thể của nhóm tội phạm này là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sống tự nhiên và sử dụng hợp lý tài nguyên.
  3. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự hiện đại, kế thừa quan điểm nghiên cứu của Tiến sĩ Trịnh Quốc Toản công bố năm 2011.

Đồng thời, luận văn tiếp thu lý thuyết tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm xâm hại môi trường của Giáo sư Lê Văn Cảm công bố năm 2001 và nghiên cứu so sánh quy định pháp luật hình sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Singapore để làm giàu luận cứ hoàn thiện pháp luật trong nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp chính thống từ các báo cáo định kỳ của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013, báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường giai đoạn 2008 - 2013 và cơ sở dữ liệu xét xử 262 vụ án môi trường trên toàn quốc giai đoạn 2001 - 2013.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu tổng thể với cỡ mẫu khảo sát thực chứng đạt 100%, bao gồm toàn bộ 138 vụ án và 174 bị cáo bị truy tố, xét xử về các tội phạm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khung thời gian 6 năm từ năm 2008 đến hết năm 2013.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích văn bản quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu, so sánh luật học và điều tra xã hội học pháp lý. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, cho phép đối chiếu trực tiếp giữa các điều luật lý tính với diễn biến xét xử tại 2 cấp tòa án nhân dân, từ đó chỉ ra chính xác các nút thắt trong công tác áp dụng pháp luật hình sự.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách rất lớn giữa số lượng vi phạm hành chính và số vụ án bị khởi tố hình sự. Năm 2008, toàn quốc phát hiện 998 vụ vi phạm môi trường thì chuyển cơ quan điều tra 18 vụ. Đến năm 2013, số vụ việc vi phạm bị phát hiện tăng lên 10.792 vụ với tổng số tiền xử phạt hành chính đạt 105,3 tỷ đồng, nhưng số vụ chuyển cơ quan điều tra khởi tố chỉ có 255 vụ, chiếm tỷ lệ khoảng 2,36%.

Thứ hai, cơ cấu xét xử tại Hà Nội có sự thiên lệch tuyệt đối về một tội danh đơn lẻ. Trong tổng số 127 vụ án với 164 bị cáo được đưa ra xét xử sơ thẩm và phúc thẩm trong giai đoạn 2008 - 2013:

  • Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm theo Điều 190 chiếm 118 vụ, tương đương 92,91% tổng số vụ và 147 bị cáo, chiếm 89,63% tổng số bị cáo.
  • Tội hủy hoại rừng theo Điều 189 chỉ ghi nhận 1 vụ với 1 bị cáo, chiếm 0,79% tổng số vụ.
  • Toàn bộ 8 tội danh còn lại, bao gồm các tội gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và đưa chất thải nguy hại vào Việt Nam hoàn toàn không có vụ án nào được thụ lý xét xử.

Thứ ba, chính sách áp dụng hình phạt còn nặng về biện pháp giáo dục cải tạo không giam giữ và cho hưởng án treo. Cụ thể, trong 164 bị cáo bị xét xử:

  • Hình phạt án treo chiếm 114 bị cáo, tương đương 69,51%.
  • Cải tạo không giam giữ chiếm 12 bị cáo, tương đương 7,31%.
  • Phạt tù dưới 3 năm là 40 bị cáo, tương đương 24,39%.
  • Phạt tù từ 3 đến 7 năm chỉ có 9 bị cáo, tương đương 5,48%.
  • Phạt tù từ 7 đến 15 năm duy nhất có 1 bị cáo, chiếm 0,61%.

Thứ tư, Hà Nội chiếm tỷ trọng áp đảo trong bức tranh xét xử tội phạm môi trường của cả nước. Với 138 vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý trong 6 năm từ năm 2008 đến năm 2013, địa phương này chiếm gần 50% tổng số 262 vụ án môi trường được ngành tòa án cả nước đưa ra xét xử trong suốt chu kỳ 12 năm từ năm 2001 đến năm 2013.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự tập trung gần như tuyệt đối vào Điều 190 là do sự ra đời của Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT của liên ngành nông nghiệp, tư pháp, công an, kiểm sát và tòa án, đưa ra các tiêu chí định lượng tang vật rất cụ thể để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, các tội danh gây ô nhiễm môi trường khác sử dụng các dấu hiệu định tội định tính trừu tượng như "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng" nhưng lại thiếu thông tư hướng dẫn định lượng, khiến các cơ quan tiến hành tố tụng e ngại rủi ro oan sai nên chuyển sang xử phạt hành chính.

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ công nhận cá nhân là chủ thể của tội phạm. Trong khi đó, phần lớn các vi phạm xả thải nghiêm trọng tại 41 cụm công nghiệp, 1.350 làng nghề và 251 doanh nghiệp hóa chất trên địa bàn Hà Nội đều do pháp nhân thực hiện, tạo nên rào cản pháp lý lớn khiến cơ quan điều tra không thể khởi tố tổ chức vi phạm.

Về phương thức trình bày trực quan, các dữ liệu trên có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép so sánh mức tăng trưởng liên tục của các vụ vi phạm hành chính giai đoạn 2008 - 2013 với đường đi ngang của số vụ khởi tố hình sự. Kèm theo đó là biểu đồ tròn phân chia tỷ trọng các nhóm tội danh với phần diện tích 92,91% thuộc về tội vi phạm quy định bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm, minh chứng trực quan cho sự mất cân đối trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, sửa đổi, bổ sung quy định về chủ thể tội phạm trong Bộ luật Hình sự. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các tội phạm môi trường trong giai đoạn 2015 - 2017, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chuyển hóa các vụ xả thải nghiêm trọng của doanh nghiệp sang xử lý hình sự đạt ít nhất 15% trong vòng 3 năm áp dụng luật mới.

Hai là, ban hành văn bản liên ngành hướng dẫn cụ thể hóa các dấu hiệu định tội. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Công an ban hành thông tư liên tịch trong thời hạn 12 tháng, định lượng hóa chính xác các chỉ số vi phạm như nồng độ chất độc hại vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 5 lần trở lên hoặc lượng chất thải nguy hại phát tán từ 1.000 kg trở lên để xóa bỏ tình trạng 0% án xét xử đối với nhóm tội ô nhiễm môi trường.

Ba là, nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật và năng lực giám định tư pháp. Bộ Công an và Công an thành phố Hà Nội cần trang bị đầy đủ 100% phương tiện lấy mẫu, đo đạc chỉ số ô nhiễm tại hiện trường cho lực lượng Cảnh sát môi trường cấp quận, huyện trong thời hạn 24 tháng, rút ngắn thời gian ban hành kết luận giám định nồng độ chất thải từ vài tuần xuống dưới 48 giờ.

Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tiếp nhận thông tin tố giác. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các tổ chức đoàn thể địa phương định kỳ 6 tháng một lần tổ chức tập huấn pháp luật môi trường cho 100% đại diện cơ sở sản xuất tại 1.350 làng nghề và 41 cụm công nghiệp, đồng thời vận hành đường dây nóng trực tuyến nhằm xử lý dứt điểm 95% tin báo tố giác tội phạm môi trường trong vòng 72 giờ tiếp nhận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng: Các đại biểu Quốc hội, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên có thể sử dụng cơ sở lý luận và chuỗi số liệu 138 vụ án tại Hà Nội làm tài liệu thực chứng phục vụ công tác lập pháp và tháo gỡ vướng mắc trong quá trình định tội danh.

Nhóm lực lượng Cảnh sát môi trường và Thanh tra chuyên ngành: Cán bộ trinh sát và thanh tra viên có thể vận dụng các phân tích về thủ đoạn lẩn tránh pháp lý tại 11.041 doanh nghiệp xuất nhập khẩu và 1.350 làng nghề để xây dựng kế hoạch trinh sát, kiểm tra và thu thập chứng cứ vi phạm hiệu quả.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học: Độc giả học thuật có thể khai thác hệ thống dữ liệu 6 năm liên tục cùng các phân tích so sánh cấu thành tội phạm quốc tế làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về luật hình sự.

Nhóm nhà quản lý doanh nghiệp và ban quản lý các khu công nghiệp: Các nhà điều hành tại 8 khu công nghiệp và 41 cụm công nghiệp có thể tham khảo luận văn để nhận diện sớm các rủi ro pháp lý, từ đó chủ động đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tội phạm về môi trường được định nghĩa như thế nào trong khoa học luật hình sự? Trả lời: Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội về quản lý, bảo vệ môi trường tự nhiên và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.

Câu hỏi: Vì sao thực tiễn xét xử tội phạm môi trường tại Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013 lại dồn vào Điều 190? Trả lời: Nguyên nhân là vì Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT đã đưa ra các tiêu chí định lượng rất rõ ràng về số lượng cá thể và mức độ quý hiếm của động vật để khởi tố 118 vụ án, trong khi 9 tội danh môi trường khác chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết tương tự.

Câu hỏi: Việc chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân gây ra khó khăn gì trong thực tiễn? Trả lời: Khó khăn lớn nhất là không thể xử lý hình sự các doanh nghiệp xả thải độc hại quy mô lớn tại 41 cụm công nghiệp và 8 khu công nghiệp. Do Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định trách nhiệm hình sự cá nhân, cơ quan chức năng buộc phải chuyển sang xử phạt hành chính đối với các tổ chức vi phạm.

Câu hỏi: Những trở ngại kỹ thuật lớn nhất trong việc chứng minh tội phạm ô nhiễm môi trường là gì? Trả lời: Trở ngại chủ yếu đến từ việc thiếu trang thiết bị lấy mẫu chuyên dụng, chi phí giám định độc chất cao và thời gian kéo dài. Do đó, trong 10.792 vụ vi phạm năm 2013 trên cả nước, lực lượng chức năng chỉ hoàn tất đủ hồ sơ để chuyển cơ quan điều tra khởi tố 255 vụ việc.

Câu hỏi: Tỷ lệ 69,51% bị cáo được hưởng án treo tại Hà Nội thể hiện điều gì? Trả lời: Tỷ lệ 114 trên 164 bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo và sự phân hóa trách nhiệm đối với các đối tượng vi phạm lần đầu hoặc đóng vai trò vận chuyển thuê. Tuy nhiên, mức độ áp dụng án treo cao cũng làm giảm đáng kể tính răn đe chung của pháp luật hình sự.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện lý luận về tội phạm môi trường và làm rõ thực tiễn xét xử 138 vụ án với 164 bị cáo tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2008 - 2013.
  • Chỉ rõ sự mất cân đối nghiêm trọng khi 92,91% số vụ án xét xử tập trung vào tội vi phạm quy định bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm, trong khi các tội danh gây ô nhiễm nghiêm trọng hầu như vắng bóng.
  • Phân tích sâu sắc các nguyên nhân cốt lõi từ việc thiếu văn bản định lượng tiêu chí định tội và khoảng trống pháp lý khi chưa truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân.
  • Đề xuất lộ trình sửa đổi Bộ luật Hình sự, ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất và trang bị kỹ thuật đo đạc hiện trường cho lực lượng chuyên trách.
  • Khẳng định vai trò then chốt của công tác phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án và chính quyền cơ sở tại 1.350 làng nghề.

Công trình là đóng góp học thuật quan trọng, cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ tiến trình hoàn thiện chính sách hình sự môi trường tại Việt Nam. Trong giai đoạn 3 đến 5 năm tới, các cơ quan tư pháp cần tiếp tục mở rộng khảo sát, đánh giá tác động thực tế của các quy định pháp luật mới sau khi được bổ sung chế định pháp nhân thương mại. Các nhà lập pháp, chuyên gia tư pháp và cộng đồng doanh nghiệp hãy cùng khai thác, ứng dụng các phát hiện của công trình để xây dựng môi trường pháp lý nghiêm minh, bảo vệ vững chắc sự phát triển bền vững của Thủ đô và đất nước.