CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về công tác cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. Căn cứ theo hình thức pháp lí, ngân hàng thương mại được định nghĩa “là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận" (Theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Căn cứ tại Điều 98 Luật tổ chức tín dụng 2010, các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại được quy định cụ thể như sau: 1.
Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: a) Cho vay; b) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; c) Bảo lãnh ngân hàng; 4 d) Phát hành thẻ tín dụng; đ) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; e) Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
Cung ứng các phương tiện thanh toán. Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: a) Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Đặc điểm Về cơ bản, ngân hàng thương mại thường mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế. Nói ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế nghĩa là ngân hàng thương mại hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp và bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây được coi là lĩnh vực đặc biệt vì liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành cũng như mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội. Lĩnh vực tiền tệ ngân hàng cũng được xem là lĩnh vực nhạy cảm, đòi hỏi một sự thận trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội. Bên cạnh đó, hoạt động của ngân hàng thương mại còn góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế.
5 Thứ ba, là loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt. Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả giác độ vốn chủ sở hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Để thành lập một ngân hàng thương mại phải có vốn điều lệ tối thiểu 3000 tỷ đồng.
Mạng lưới các chi nhánh ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý. Cấu trúc tài sản của ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính. Phần lớn tài sản của ngân hàng thương mại là tài sản tài chính, mang đặc trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí chỉ là dữ liệu điện tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định. Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại thường có xu hướng liên tục phát triển các sản phẩm, công cụ tài chính mới.
Thứ tư, luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Với bản chất kinh doanh đặc biệt là trung gian tài chính giữa các bên, ngân hàng thương mại thường tham gia vào những cam kết mà chưa được chuyển vốn, tham gia bảo lãnh,. Bên cạnh đó, nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là tiền huy động vốn thông qua gửi tiết kiệm. Hình thức này có đặc điểm là có thể bị rút trước hạn với số lượng khó dự báo và xác định.
Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thường chứa đựng rất nhiều rủi ro, nhiều hơn so với các ngành kinh doanh khác. Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan. Các loại rủi ro bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng,… Với quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịu nhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, ngân hàng thương mại là định chế tài chính thường chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống phát luật. Các quy định pháp lý đối với ngân hàng thương mại bao gồm: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tư cho tài sản cố định,… 6 Thứ năm, tính liên kết và ổn định của hệ thống ngân hàng là rất lớn.
Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất cao, hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế. Do đó, rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại có tính lan toả rất nhanh. Hệ thống này hoạt động như các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù chỉ là ngân hàng nhỏ, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống. Khái niệm và đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm khách hàng doanh nghiệp Doanh nghiệp, theo một cách khái quát, có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ trên thị trường. Tuỳ theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động, hình thức tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp có thể được hiểu dưới các thuật ngữ khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng. Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 thì doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp phát sinh rất nhiều những nhu cầu về vốn, dịch vụ thanh toán,.
nhằm phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của mình. Một trong những giải pháp tối ưu nhất đối với các doanh nghiệp là tìm đến ngân hàng để thõa mãn những nhu cầu đó. Từ đó có thể hiểu: Khách hàng doanh nghiệp của NHTM là những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng cho mục đích sản xuất kinh doanh của họ. Đặc điểm khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại Theo Lê Văn Tư (2005), khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM có những đặc điểm sau: Thứ nhất, khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM rất đa dạng về ngành nghề, đối tượng kinh doanh và tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị.
Thứ hai, các doanh nghiệp vay vốn tại Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, có tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, nhờ đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh. Vốn ban đầu của các doanh nghiệp này thường ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh, tạo nên sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh. Thứ ba, khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM chủ yếu là doanh nghiệp phi nhà nước, thuộc loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần.
Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại a. Khái niệm cho vay Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM.
Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, trong đó NHTM giao cho khách hàng là doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định và trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn để phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh. Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay đối với doanh nghiệp là một trong những mục tiêu và chiến lược quan trọng nhằm mở rộng tín dụng của các ngân hàng thương mại hiện nay. Khách hàng doanh nghiệp luôn được các ngân hàng đặc biệt chú ý bởi đây là một thị trường rất tiềm năng.