Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thị trường thẩm định giá tài sản tại Việt Nam đã trải qua gần hai thập kỷ hình thành và phát triển kể từ khi Pháp lệnh Giá năm 2002 được ban hành, từng bước hoàn thiện để tiệm cận với các thông lệ thẩm định giá quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập, nhu cầu định giá bất động sản gia tăng nhanh chóng, đóng vai trò là công cụ bảo đảm tính khách quan, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao dịch. Hoạt động thẩm định giá bất động sản phục vụ đa dạng các mục đích như cấp tín dụng ngân hàng, bảo hiểm, xác định nghĩa vụ tài chính đất đai, mua bán - sáp nhập, cổ phần hóa và liên doanh đầu tư. Tuy nhiên, lĩnh vực này tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn, đặc biệt là công tác kiểm soát chất lượng và tình trạng thông tin thị trường thiếu nhất quán, tính minh bạch chưa cao.

Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue (SVALUE) được thành lập vào tháng 9 năm 2017. Là một doanh nghiệp trẻ trong ngành, hoạt động thẩm định giá của công ty bộc lộ một số tồn tại nhất định về quy trình, dữ liệu thị trường và việc áp dụng các phương pháp định giá. Từ kinh nghiệm thực tập thực tế tại Phòng Nghiệp vụ thẩm định giá bất động sản của SVALUE, tác giả Nguyễn Thị Dung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định giá bất động sản tại doanh nghiệp này.

Về tổng quan nghiên cứu, đề tài kế thừa các công trình quốc tế như nghiên cứu của Ted Gwartney Arden và Delaware (1999) về nguyên tắc định giá đất; Catherine Nind (2002) về định giá đất dưới tác động môi trường; Elli Pagourtzi cùng các cộng sự (2003) về hệ thống hóa các phương pháp định giá truyền thống và nâng cao; hay Rotimi Boluwatife Abidoye và cộng sự (2019) về mức độ ứng dụng các phương pháp định giá tại Úc. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu nền tảng đã được công bố như Phạm Thị Ngọc Mỹ (2003), Nguyễn Mạnh Hải (2004), Nguyễn Minh Hoàng (2008), Tô Công Thành Luận (2012), Đề tài cấp Bộ của Bộ Tài chính (2013), cũng như các nghiên cứu tình huống cụ thể tại ngân hàng thương mại của Vũ Ngọc Luân (2015) và tại doanh nghiệp thẩm định giá của Trương Ngọc Duy (2017). Khóa luận của tác giả là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu khảo sát công tác thẩm định giá bất động sản tại SVALUE.

Khóa luận xác định ba (03) mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát cơ sở lý luận về công tác thẩm định giá, đặc biệt là công tác thẩm định giá bất động sản tại doanh nghiệp thẩm định giá.
  2. Khái quát, đánh giá, phân tích thực trạng công tác định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue.
  3. Đề xuất một số giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị với cơ quan quản lý nhằm hoàn thiện công tác thẩm định giá bất động sản.

Tương ứng với các mục tiêu trên, tác giả đặt ra ba (03) câu hỏi nghiên cứu:

  1. Công tác thẩm định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue được tiến hành như thế nào?
  2. Thực trạng công tác thẩm định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue đã thực sự hiệu quả, hợp lý và hạn chế được rủi ro hay chưa?
  3. Thông qua những nghiên cứu thực trạng trên, các giải pháp nào có thể giúp hoàn thiện hơn công tác thẩm định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác thẩm định giá bất động sản tại doanh nghiệp thẩm định giá.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu là Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue; thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng từ các khái niệm nền tảng trong nước và quốc tế. Về thẩm định giá, tác giả viện dẫn định nghĩa từ Từ điển Oxford, Seabrooke (Viện Đại học Portsmouth) và Điều 4 Luật Giá số 11/2012/QH13. Khái niệm bất động sản được dẫn chiếu theo Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất và các tài sản khác gắn liền với đất. Nghiên cứu phân tích tám đặc tính kinh tế - kỹ thuật của bất động sản: tính bất động, tính đa dạng (không đồng nhất), tính khan hiếm, tính bền vững, tính ảnh hưởng lẫn nhau, tính có giá trị lớn, chịu sự can thiệp và quản lý chặt chẽ của Nhà nước, cùng tính chịu ảnh hưởng của văn hóa - xã hội. Bất động sản được phân loại thành ba nhóm: bất động sản có đầu tư xây dựng, bất động sản không đầu tư xây dựng và bất động sản đặc biệt.

Về cơ sở giá trị, đề tài phân định rõ giữa cơ sở giá trị thị trường (theo tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thẩm định giá Quốc tế - IVSC) và cơ sở giá trị phi thị trường (gồm giá trị trong sử dụng, giá trị thanh lý, giá trị phục hồi, và giá trị có thể bảo hiểm). Hệ thống nguyên tắc định giá gồm bảy nguyên tắc: Sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất, Thay thế, Dự kiến các khoản lợi ích trong tương lai, Đóng góp, Cung cầu, Thay đổi, và Phù hợp. Về phương pháp định giá, cơ sở lý luận bao gồm bốn phương pháp truyền thống: So sánh trực tiếp, Chi phí, Thặng dư (giá trị còn lại), và Lợi nhuận (chiết khấu dòng thu nhập).

Hệ thống văn bản pháp quy được áp dụng xuyên suốt khóa luận gồm:

  • Luật Giá số 11/2012/QH13;
  • Nghị định số 89/2013/NĐ-CP và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP của Chính phủ;
  • Thông tư số 38/2014/TT-BTC, Thông tư số 323/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính;
  • Hệ thống Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam (TCTĐG): TCTĐG số 01, 02, 03, 04 (Thông tư số 158/2014/TT-BTC); TCTĐG số 05 về quy trình thẩm định giá, số 06, 07 (Thông tư số 28/2015/TT-BTC); TCTĐG số 08, 09, 10 (Thông tư số 126/2015/TT-BTC); TCTĐG số 11 về thẩm định giá bất động sản (Thông tư số 145/2016/TT-BTC); TCTĐG số 12 (Thông tư số 122/2017/TT-BTC); và TCTĐG số 13 (Thông tư số 06/2014/TT-BTC);
  • Bảng giá các loại đất và đơn giá xây dựng mới do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện thông qua việc kết hợp phương pháp tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và khảo cứu các tài liệu, hồ sơ nghiệp vụ. Tác giả phân tích dữ liệu thứ cấp từ Phòng Kế toán, Phòng Hành chính và Hồ sơ năng lực của SVALUE, kết hợp phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình có ví dụ minh họa tính toán cụ thể trên một hồ sơ định giá bất động sản thực tế tại công ty.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác thẩm định giá bất động sản

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về thẩm định giá bất động sản. Tác giả chỉ rõ năm yếu tố chung cấu thành khái niệm thẩm định giá: là việc ước tính giá trị hiện tại của quyền sở hữu tài sản; đo lường bằng đơn vị tiền tệ; phục vụ mục đích đã định trước; tại thời điểm và địa điểm cụ thể; dựa trên cơ sở dữ liệu thị trường hoặc phi thị trường.

Chương này trình bày chi tiết quy trình thẩm định giá sáu bước chuẩn hóa theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 05 (ban hành kèm Thông tư số 28/2015/TT-BTC):

  • Bước 1: Xác định tổng quát về tài sản thẩm định giá và xác định giá trị thị trường hoặc phi thị trường làm cơ sở thẩm định giá.
  • Bước 2: Lập kế hoạch thẩm định giá.
  • Bước 3: Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin.
  • Bước 4: Phân tích thông tin.
  • Bước 5: Đánh giá và áp dụng các phương pháp thẩm định giá để xác định giá trị tài sản.
  • Bước 6: Chuẩn bị kết quả thẩm định giá và lập báo cáo/chứng thư thẩm định giá.

Tác giả cũng phân tích chi tiết cơ sở lý luận, công thức, các bước tiến hành cùng ưu - nhược điểm và điều kiện áp dụng của bốn phương pháp: So sánh trực tiếp, Chi phí, Thặng dư và Lợi nhuận. Đồng thời, căn cứ Thông tư số 323/2016/TT-BTC, chương 1 thiết lập năm nhóm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện công tác thẩm định giá tại doanh nghiệp, bao gồm: mức độ chấp hành pháp luật; mức độ tuân thủ tiêu chuẩn quy trình; sự phù hợp của phương pháp định giá; chất lượng dịch vụ (tiến độ thực hiện, tỷ lệ hồ sơ phải thẩm định lại, mức độ hài lòng của khách hàng); và năng lực nguồn lực thẩm định viên.

Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue

Chương 2 tập trung phân tích hoạt động thực tế tại SVALUE. Doanh nghiệp được thành lập ngày 11/09/2017 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0107991346; người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Oanh. Công ty được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá số 321/TĐG (cấp lại lần 1 ngày 06/08/2019) và duy trì điều kiện hành nghề qua Thông báo số 1079/TB-BTC ngày 31/12/2020. Trụ sở chính đặt tại quận Hoàng Mai, Hà Nội cùng bốn văn phòng đại diện tại Hà Nội, Hải Dương, Điện Biên và Thành phố Hồ Chí Minh. Quy mô nhân sự gồm gần 30 người, trong đó có 5 thẩm định viên về giá được Bộ Tài chính cấp thẻ hành nghề. Bộ máy nghiệp vụ chia thành ba phòng: Phòng Nghiệp vụ 1 (thẩm định giá mua sắm tài sản công), Phòng Nghiệp vụ 2 (thẩm định giá bất động sản), và Phòng Nghiệp vụ 3 (thẩm định giá doanh nghiệp).

Kết quả doanh thu từ hoạt động thẩm định giá của SVALUE giai đoạn 2018-2020 được phản ánh qua bảng số liệu sau:

Chỉ tiêu doanh thu (triệu đồng) Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Bất động sản 1.634 2.478 1.975
Động sản 2.056 1.162 853
Giá trị doanh nghiệp 323 114 111
Tổng cộng 4.013 3.754 2.939

Số liệu cho thấy sự chuyển dịch chiến lược của SVALUE: Năm 2018, mảng động sản chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 2 tỷ đồng. Từ năm 2019, thẩm định giá bất động sản trở thành dịch vụ then chốt, doanh thu đạt 2.478 triệu đồng, đưa tỷ trọng mảng bất động sản từ 41% (năm 2018) tăng vọt lên 66% (năm 2019). Hoạt động định giá bất động sản tại công ty chủ yếu phục vụ thế chấp tín dụng cho các đối tác ngân hàng lớn gồm Agribank, Techcombank và BIDV. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tổng doanh thu dịch vụ thẩm định giá giảm hơn 20% (giảm khoảng 800 triệu đồng).

Về quy trình tác nghiệp, SVALUE ban hành quy trình nội bộ sáu bước, phân định cụ thể trách nhiệm giữa Phòng Kinh doanh và Phòng Nghiệp vụ:

Bước Bộ phận thực hiện Nội dung công việc chính
1 Phòng Kinh doanh và Nghiệp vụ Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ khách hàng (chứng từ sở hữu, thông tin quy hoạch, công văn đề nghị, tờ khai lệ phí trước bạ, bản vẽ hiện trạng).
2 Phòng Nghiệp vụ Xác định thông tin tài sản thẩm định giá và cơ sở thẩm định giá (mục đích, thời điểm, vị trí, cơ sở giá trị, phí dịch vụ).
3 Phòng Kinh doanh và Nghiệp vụ Khảo sát hiện trạng tài sản thẩm định giá và tài sản so sánh (chụp ảnh, xác định yếu tố ngập lụt/gần nghĩa địa/chùa, lối di chuyển, thu thập dữ liệu tài sản so sánh, lập biên bản khảo sát).
4 Phòng Nghiệp vụ Lập bảng tính phân tích thông tin (tra cứu đơn giá đất Nhà nước, đơn giá xây dựng địa phương, phân tích thông tin thị trường).
5 Phòng Nghiệp vụ Xác định giá trị tài sản thẩm định giá (áp dụng phương pháp định giá).
6 Phòng Nghiệp vụ Lập chứng thư và báo cáo thẩm định giá.

Về phương pháp định giá, đối với bất động sản đô thị tại Hà Nội, Hải Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, công ty áp dụng cách tiếp cận thị trường thông qua phương pháp so sánh trực tiếp (theo TCTĐG số 08). Đối với tài sản có công trình trên đất, công ty áp dụng phương pháp chiết trừ (theo TCTĐG số 11) nhằm loại trừ phần giá trị công trình xây dựng để xác định giá trị quyền sử dụng đất; phần công trình xây dựng gắn liền với đất được xác định bằng phương pháp chi phí. Chương 2 cũng trình bày một ví dụ minh họa chi tiết với các bảng thu thập dữ liệu thị trường (Bảng 2.4) và bảng điều chỉnh các yếu tố so sánh (Bảng 2.5), đồng thời tổng hợp các chỉ tiêu phản ánh tiến độ hoàn thành hồ sơ (Bảng 2.6) và số lượng hồ sơ nhận phản hồi tiêu cực từ khách hàng (Bảng 2.7).

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chương 3 đề ra định hướng phát triển của SVALUE là tập trung chuyên sâu vào mảng định giá tài sản bảo đảm phục vụ cho vay và xử lý nợ cho hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị.

Tác giả đề xuất sáu giải pháp cụ thể cho SVALUE:

  1. Hoàn thiện quy trình thẩm định giá: Rút ngắn thời gian tiếp nhận, chuẩn hóa sự phối hợp giữa Phòng Kinh doanh và Phòng Nghiệp vụ, thắt chặt khâu khảo sát thực địa.
  2. Hoàn thiện và ứng dụng linh hoạt các phương pháp thẩm định giá: Khắc phục việc phụ thuộc thuần túy vào phương pháp so sánh và chiết trừ; nghiên cứu ứng dụng phương pháp thặng dư và chiết khấu dòng tiền (DCF) đối với các bất động sản tạo thu nhập hoặc dự án phát triển.
  3. Bổ sung, hoàn thiện, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất: Trang bị thêm thiết bị đo đạc, phương tiện khảo sát và nâng cấp hạ tầng phần mềm tính toán.
  4. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ thẩm định giá: Thiết lập kho dữ liệu nội bộ lưu trữ giá giao dịch, thông tin quy hoạch và tài sản so sánh theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 38/2014/TT-BTC.
  5. Nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên viên thẩm định giá: Chú trọng đào tạo nghiệp vụ cập nhật cơ chế chính sách, bồi dưỡng chuẩn mực đạo đức hành nghề (độc lập, trung thực, khách quan).
  6. Nâng cao chất lượng quản lý, kiểm tra và giám sát nội bộ: Tăng cường kiểm soát chất lượng báo cáo và chứng thư định giá trước khi phát hành nhằm giảm thiểu tỷ lệ hồ sơ phải thẩm định lại.

Về phía cơ quan quản lý, tác giả nêu ba nhóm kiến nghị:

  • Kiến nghị với Chính phủ: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường về đất đai, xây dựng cơ chế quản lý giao dịch bất động sản bắt buộc thanh toán qua ngân hàng để minh bạch hóa giá trị mua bán thực tế.
  • Kiến nghị với Bộ Tài chính: Kịp thời sửa đổi, bổ sung các Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam phù hợp với thực tiễn; tăng cường thanh tra, kiểm tra chất lượng hoạt động của các tổ chức thẩm định giá; thiết lập cổng thông tin cơ sở dữ liệu giá quốc gia.
  • Kiến nghị với Hội Thẩm định giá Việt Nam: Phát huy vai trò cầu nối nghề nghiệp, tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn thường niên, xây dựng các báo cáo thị trường chuyên đề hỗ trợ hội viên tra cứu thông tin.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả và đóng góp cụ thể:

  • Về mặt học thuật: Hệ thống hóa tương đối đầy đủ khung lý luận, nguyên tắc và bốn phương pháp thẩm định giá bất động sản truyền thống, đồng thời cập nhật chi tiết hệ thống quy chuẩn pháp lý và tiêu chuẩn nghề nghiệp tại Việt Nam tính đến năm 2021.
  • Về mặt thực tiễn: Đưa ra bức tranh thực trạng hoạt động kinh doanh và tác nghiệp chuyên môn của SVALUE trong giai đoạn ba năm 2018-2020. Các số liệu phản ánh rõ mức độ cơ cấu lại nguồn thu: doanh thu bất động sản tăng từ 1.634 triệu đồng (chiếm 41% năm 2018) lên 2.478 triệu đồng (chiếm 66% năm 2019) và đạt 1.975 triệu đồng năm 2020 trong bối cảnh toàn công ty chịu tác động giảm hơn 20% doanh thu vì dịch bệnh.
  • Về quy trình nghiệp vụ: Làm rõ quy trình phối hợp sáu bước giữa Phòng Kinh doanh và Phòng Nghiệp vụ, phản ánh thực tế việc áp dụng phối hợp phương pháp so sánh, chiết trừ và chi phí trong định giá tài sản bảo đảm ngân hàng.
  • Tính mới của đề tài: Khóa luận là công trình nghiên cứu độc lập đầu tiên phân tích thực trạng công tác định giá bất động sản tại Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue, đưa ra hệ thống sáu giải pháp nội bộ và kiến nghị ba cấp bám sát các hạn chế nội tại của doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát tại một doanh nghiệp đơn lẻ (SVALUE) trong khoảng thời gian ba năm (2018-2020), vốn là giai đoạn công ty mới thành lập và có sự xáo trộn hoạt động do dịch bệnh Covid-19 trong năm 2020. Dữ liệu thực tế chủ yếu phản ánh loại hình bất động sản nhà đất ở đô thị phục vụ mục đích thế chấp ngân hàng, chưa mở rộng sang các bất động sản thương mại, công nghiệp phức tạp do cơ cấu hợp đồng của doanh nghiệp còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát khi nền kinh tế phục hồi sau đại dịch; phân tích sâu việc ứng dụng các mô hình định giá tiên tiến (như phân tích hồi quy hedonic, mô hình định giá hàng loạt, hoặc công nghệ thông tin địa lý - GIS) trong công tác thẩm định giá bất động sản tại các doanh nghiệp thẩm định giá Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Thẩm định giá, Tài chính doanh nghiệp, Bất động sản và Kinh tế tại các trường đại học khối kinh tế tham khảo về cấu trúc luận văn, cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp và phương pháp xử lý số liệu doanh thu, hồ sơ thẩm định.
  • Thẩm định viên tập sự và chuyên viên định giá tại các công ty thẩm định giá, bộ phận định giá tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thương mại, đặc biệt là bảng quy trình tác nghiệp sáu bước nội bộ và kỹ thuật điều chỉnh các yếu tố so sánh trong phương pháp so sánh và phương pháp chiết trừ.

Câu hỏi thường gặp

1. Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue được thành lập khi nào và có cơ cấu mạng lưới như thế nào?
Công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vào ngày 11/09/2017 (Mã số doanh nghiệp: 0107991346), trụ sở chính tại số 55 ngõ 12 Lương Khánh Thiện, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài trụ sở chính, công ty có bốn văn phòng đại diện tại Hà Nội, Hải Dương, Điện Biên và Thành phố Hồ Chí Minh, với quy mô nhân sự gần 30 người, trong đó có 5 thẩm định viên được Bộ Tài chính cấp thẻ hành nghề.

2. Cơ cấu doanh thu từ hoạt động thẩm định giá của SVALUE giai đoạn 2018-2020 thay đổi ra sao?
Tổng doanh thu đạt 4.013 triệu đồng (năm 2018), 3.754 triệu đồng (năm 2019) và 2.939 triệu đồng (năm 2020). Trong đó, doanh thu thẩm định giá bất động sản tăng từ 1.634 triệu đồng (năm 2018, chiếm 41%) lên 2.478 triệu đồng (năm 2019, chiếm 66%) và đạt 1.975 triệu đồng (năm 2020). Sang năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã làm tổng doanh thu toàn công ty giảm khoảng 800 triệu đồng (hơn 20%).

3. SVALUE chủ yếu sử dụng các phương pháp nào khi thẩm định giá bất động sản?
Công ty chủ yếu sử dụng cách tiếp cận thị trường với phương pháp so sánh trực tiếp. Đối với bất động sản có công trình trên đất nhằm xác định giá trị quyền sử dụng đất, công ty áp dụng phương pháp chiết trừ (theo TCTĐG số 11) kết hợp phương pháp chi phí để ước tính giá trị công trình xây dựng gắn liền với đất.

4. Khách hàng đối tác trọng tâm trong mảng thẩm định giá bất động sản của SVALUE là ai?
Khách hàng trọng tâm của công ty là các ngân hàng thương mại, trong đó có các đối tác lớn như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Hoạt động thẩm định giá nhằm mục đích phục vụ cho vay tín dụng, thu hồi nợ và quản trị rủi ro bảo đảm.

5. Sáu bước trong quy trình thẩm định giá bất động sản tại SVALUE được phân công thực hiện như thế nào?
Bước 1 (Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ) và Bước 3 (Khảo sát hiện trạng tài sản thẩm định giá cùng tài sản so sánh) do Phòng Kinh doanh phối hợp cùng Phòng Nghiệp vụ thực hiện. Bốn bước còn lại gồm Bước 2 (Xác định thông tin và cơ sở giá trị), Bước 4 (Lập bảng tính phân tích thông tin), Bước 5 (Xác định giá tài sản), và Bước 6 (Lập chứng thư và báo cáo thẩm định giá) do Phòng Nghiệp vụ độc lập đảm nhiệm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Dung tại Học viện Ngân hàng là một công trình nghiên cứu ứng dụng có cấu trúc logic và gắn kết chặt chẽ với thực tiễn nghề nghiệp thẩm định giá. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, các tiêu chuẩn thẩm định giá hiện hành và phân tích chi tiết dữ liệu hoạt động của Công ty Cổ phần Thẩm định giá Svalue giai đoạn 2018-2020. Các kết quả khảo sát thực trạng cùng hệ thống giải pháp hoàn thiện quy trình, dữ liệu, nhân lực và phương pháp định giá đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác định giá tài sản bảo đảm tại Việt Nam.