LỜI NÓI ĐẦU Trong nhiều năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế ở nƣớc ta đã đạt đƣợc nhƣng thành tựu to lớn. Tuy nhiên, sự đổi mới trên một số lĩnh vực xã hội còn chƣa theo kịp công cuộc đổi mới chung của đất nƣớc. Các vấn đề về tiền lƣơng, việc làm và quản lý lao động còn nhiều điểm bất hợp lý chƣa tạo đƣợc động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đây là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực lao động mà còn liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất.
Trong cơ chế mới vấn đề tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động cần đƣợc đổi mới và hoàn thiện. Thực hiện tốt đƣợc vấn đề này mới tạo ra động lực cho ngƣời lao động phát huy sức sáng tạo làm giàu cho bản thân và cho đất nƣớc, đồng thời tạo môi trƣờng cho công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên. Mặt khác có tổ chức hạch toán tièn lƣơng tốt, hợp lý mới giúp cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp tiết kiệm đƣợc chi phí, phân bổ chi phí và tính giá thành đƣợc chính xác qua đó hạ thấp đƣợc giá thành sản phẩm, dịch vụ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng nhƣ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Sau thời gian tìm hiểu và trong quá trình thực tập tôi đã chọn chuyên đề: “Hoàn thiện kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng”.
Chuyên đề đƣợc kết cấu gồm 3 phần ngoài lời nói đầu và kết luận: Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng. Phần 2: Thực trạng kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng ở Công ty VINAPON. Phần 3: Phƣơng hƣớng hoàn thiện kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng ở Công ty VINAPON. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG 1.
NHỮNG ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH DU LỊCH. Đặc điểm hoạt động kinh doanh du lịch Ngày nay, hoạt động kinh doanh du lịch không chỉ là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong ngành kinh tế quốc dân. Du lịch là một ngành đặc biệt mang tính chất pha trộn đặc điểm của nhiều ngành. Hoạt động của nó vừa mang tính chất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vừa mang tính chất văn hóa-xã hội.
Hoạt động kinh tế của ngành du lịch đa dạng mang tính tổng hợp. Các hoạt động kinh tế đƣợc phân thành 3 loại sau: - Hoạt động mang tính chất dịch vụ gồm: Dịch vụ khách sạn, dịch vụ hƣớng dẫn du lịch, dịch vụ vận tải. - Hoạt động mang tính chất sản xuất gồm: Các hoạt động chế biến các món ăn, đồ uống, hoặc sản xuất vật lƣu niệm, dụng cụ du lịch. - Hoạt động mang tính chất thƣơng mại gồm: Các hoạt động về mua bán hàng hóa, vật lƣu niệm.
Các hoạt động trên đều kết hợp với nhau tạo nên tính đa dạng, phong phú, phức tạp của hoạt động kinh doanh du lịch- dịch vụ. Hoạt động kinh doanh du lịch mang tính chất thời vụ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa- xã hội, điều kiện về di sản lịch sử văn hóa. Trong tổng chi phí kinh doanh du lịch- dịch vụ, thông thƣờng tỷ trọng “ chi phí khấu hao tài sản cố định “ là lớn nhất, sau đó đến “chi phí tiền lƣơng”. Ở một số nƣớc phát triển du lịch trên thế giới thì chi phí khấu hao tài sản cố định thƣờng chiếm tỷ trọng từ 40% - 50% tổng chi phí, còn chi phí tiền lƣơng thƣờng chiếm từ 25% - 30% tổng chi phí.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng với mục tiêu nâng cao doanh lợi và tăng tích lũy, các doanh nghiệp cần phải tìm các giải pháp phấn đấu tiết kiệm, hạ thấp chi phí giá thành sản phẩm dịch vụ. Do đó, quản lý hạch toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng luôn là sự quan tâm của các doanh nghiệp du lịch, các nhà quản lý. Đặc điểm về sản phẩm du lịch - Sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp, là kết quả của nhiều hoạt động nhằm cung cấp thoả mãn các nhu cầu cần thiết của khách du lịch. - Đa phần sản phẩm du lịch không mang hình thái vật chất.
- Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch đƣợc thực hiện đồng thời và tại chỗ, trao đổi trực tiếp với khách du lịch. - Sản phẩm du lịch bán cho khách du lịch trƣớc khi họ thấy sản phẩm đó. - Khách mua sản phẩm du lịch phải tiêu pha thời gian tiền bạc trƣớc khi sử dụng sản phẩm. - Sản phẩm du lịch không thể tồn đọng lƣu kho.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sản phẩm du lịch có nhiều chủng loại thứ hạng 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÕ, ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỀN LƢƠNG 1. Khái niệm Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có nhận thức đúng về tiền lƣơng phù hợp cơ chế quản lý mới. Theo cơ chế mới, do thừa nhận ngƣời lao động đƣợc tự do làm việc theo hợp đồng thỏa thuận, tự do chuyển dịch lao động giữa các thành phần kinh tế, giữa các cơ sở sản xuất, nghĩa là về mặt lý luận thừa nhận sự tồn tại khách quan của phạm trù thị trƣờng sức lao động nên tiền lƣơng không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị.
Trong sản xuất kinh doanh, tiền lƣơng là một yếu tố quan trọng của chi phí sản xuất, nó có quan hệ trực tiếp và có tác động nhân quả đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, quan niệm về tiền lƣơng cũng phải đổi mới về cơ bản, phải đáp ứng một số yêu cầu sau: - Phải quan niệm sức lao động là một loại hàng hóa của thị trƣờng yếu tố sản xuất. Tính chất hàng hóa của sức lao động có thể bao gồm không chỉ lực lƣợng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tƣ nhân, lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu nhà nƣớc mà cả đối với công chức - viên chức trong lĩnh vực quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội. Tuy nhiên, do những đặc thù riêng trong việc sử dụng lao động của từng khu vực kinh tế và quản lý mà các quan hệ thuê mƣớn, mua bán hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thỏa thuận về tiền lƣơng và cơ chế quản lý tiền lƣơng cũng đƣợc thực hiện theo các hình thức khác nhau.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tiền lƣơng phải là tiền trả cho sức lao động, tức là giá cả của hàng hóa sức lao động mà ngƣời sử dụng và ngƣời cung ứng thỏa thuận với nhau theo luật cung cầu, giá cả trên thị trƣờng lao động. - Tiền lƣơng là bộ phận cơ bản ( hoặc duy nhất) trong thu nhập của ngƣời lao động, đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Để đáp ứng đƣợc những yêu cầu trên thì tiền lƣơng đƣợc hiểu là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá của yếu tố sức lao động mà ngƣời sử dụng (nhà nƣớc, chủ doanh nghiệp) phải trả cho ngƣời cung ứng sức lao động, tuân theo các nguyên tắc cung-cầu, gía cả của thị trƣờng và pháp luật hiện hành của Nhà nƣớc. Quan hệ cung ứng và sử dụng lao động tuỳ thuộc từng quốc gia và tùy từng giai đoạn phát triển của kinh tế-xã hội mà có những chính sách phù hợp nhất định.
Nhƣng bản chất của lao động- tiền lƣơng trong các quan hệ đó là thống nhất với khái niệm đã nêu ở trên. Nền kinh tế thị trƣờng càng phát triển và đƣợc xã hội hóa cao thì quan hệ cung ứng và sử dụng sức lao động trên tất cả các lĩnh vực càng trở nên linh hoạt hơn, tính chất xã hội hóa của lao động ngày càng cao hơn, tiền lƣơng trở thành nguồn thu nhập duy nhất, là mối quan tâm và động lực lớn nhất với mọi đối tƣợng cung ứng sức lao động. Cũng với khái niệm trên, tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lƣơng. Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận, mua bán sức lao động và thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực sản xuất- kinh doanh, các hợp đồng thuê lao động có thời hạn.
Tiền công còn đƣợc hiểu là tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trả 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo khối lƣợng công việc đƣợc thực hiện phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trƣờng tự do và có thể gọi là giá công lao động. Trong những nền kinh tế thị trƣờng, khái niệm tiền lƣơng và tiền công đƣợc xem là đồng nhất cả về bản chất kinh tế, phạm vi và đối tƣợng áp dụng. Nhƣng ở các nƣớc đang chuyển từ nền kinh tế mệnh lệnh sang kinh tế thị trƣờng, khái niệm tiền lƣơng thƣờng đƣợc gắn với chế độ tuyển dụng suốt đời, hoặc một thỏa thuận hợp đồng sử dụng lao động dài hạn, ổn định. Trong bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần sử dụng một lực lƣợng lao động nhất định tuỳ theo quy mô, yêu cầu sản xuất cụ thể.
Chi phí về tiền lƣơng là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, sử dụng hợp lý lao động cũng chính là tiết kiệm chi phí về lao động sống (lƣơng), do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Tiền lƣơng không phải là vấn đề chi phí trong nội bộ từng doanh nghiệp thu nhập đối với ngƣời lao động mà còn là một vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội mà Chính phủ của mỗi quốc gia cần phải quan tâm.