lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1 : Lý luận chung về công tác tổ chức kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH xây dựng và phát triển Tuấn Hƣng Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH xây dựng và phát triển Tuấn Hƣng Em xin chân thành cảm ơn phòng kế toán, các phòng ban chức năng của công ty TNHH Xây Dựng Và Phát Triển Tuấn Hưng và Th.s Trần Thị Thanh Thảo đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành bài luận này. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Trần Thị Thu Hương Sinh viên: Trần Thị Thu Hương – QT1702K 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG CHƢƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề chung về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ý nghĩa của việc tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh.
Đối với nhà nước: Việc tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh có ý nghĩa quan trọng với nhà nước: - Thông qua tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước của các doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách quốc gia sẽ có cơ sở đề ra các giải pháp phát triển kinh tế , tạo điều kiện cho các doanh nghiêp hoạt động thông qua chính sách tiền tệ, chính sách thuế và các khoản trợ cấp, trợ giá. - Trên cơ sở các số liệu về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, cơ quan thuế xác định các khoản thuế phải thu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách quốc gia.Từ đó, Nhà nước có thể tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đảm bảo điều kiện về chính trị- an ninh- xã hội tốt nhất. Đối với doanh nghiệp: Việc tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh giúp các doanh nghiệp: - Xác định hiệu quả của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp. - Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh.
- Có căn cứ để thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, thực hiện việc phân phối cũng như tái đầu tư sản xuất, kinh doanh. - Kết hợp các thông tin thu thập được với các thông tin khác để đề ra chiến lược giải pháp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trong tương lai. Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trên báo cáo tài chính, các nhà đầu tư sẽ phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp để có các quyết định đầu tư đúng đắn. Đối với các nhà cung cấp: Sinh viên: Trần Thị Thu Hương – QT1702K 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG Kết quả kinh doanh và lịch sử thanh toán là căn cứ để đưa ra các quyết định về việc cho doanh nghiệp chậm thanh toán.
Đối với các tổ chức tài chính trung gian: Các số liệu về doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là căn cứ để ra quyết định cho vay vốn đầu tư. Yêu cầu, nhiệm vụ của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.Yêu cầu của kế toán doanh thu, chi phí, và xác định kết quả kinh doanh. Quản lí nghiệp vụ tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp là quá trình quản lí hàng hóa về số lượng, chất lượng giá trụ hàng hóa bán ra, quản lí từ khâu mua, bán từng mặt hàng, từng nhóm hàng cho đến khi thu được tiền hàng cụ thể như sau: - Quản lí về gía cả bao gồm: việc lập dự định về theo dõi, việc thực hiện giá đưa ra kế hoạch của kì tiếp theo. - Quản lí về số lượng: giá trị hàng hóa xuất bán bao gồm việc quản lí từng người mua, từng lần gửi hàng, từng nhóm hàng.
- Quản lí việc thu hồi tiền bán hàng và xác định kết quả kinh doanh: quản lí tiêu thụ hàng hóa tốt sẽ tạo điều kiện cho quản lí kết quả kinh doanh tốt.Từ đó hạn chế rủi ro trong kinh doanh cũng như ngăn chặn nguy cơ thất thoát hàng hóa, đảm bảo tính chính xác của các số liệu đưa ra. Nhiệm vụ của kế toán doanh thu, chi phí, và xác định kết quả kinh doanh - Phản ánh, ghi chép đầy đủ tình hình hiện có và sự biến động về mặt số lượng, chủng loại, quy cách, mẫu mã,…đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ bán ra. - Phản ánh ghi chép đầy đủ, kịp thời các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và toàn bộ chi phí phát sinh trong kì để cuối kì tập hợp doanh thu, chi phí từ đó xác định được kết quả kinh doanh. - Theo dõi thường xuyên, liên tục, biến động tăng, giảm các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhấp khác.
- Theo dõi chi tiết các khoản giảm trừ doanh thu, các khoản phải thu, chi phí của từng hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu khách hàng. Sinh viên: Trần Thị Thu Hương – QT1702K 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG - Theo dõi chi tiết, riêng biệt theo từng loại doanh thu, kể cả doanh thu nội bộ nhằm phản ánh kịp thời, chi tiết, đầy đủ kết quả kinh doanh làm căn cứ lập báo cáo tài chính. - Xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước. - Cung cấp các thông tin kế toán chính xác, kịp thời cho việc lập báo cáo tài chính và định kì phân tích hoạt động kinh doanh liên quan đến doanh thu và xác định kết quả kinh doanh.
- Xác lập được quá trình luân chuyển chứng từ về kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh. - Đưa ra những kiến nghị, biện pháp nhằm hoàn thiện việc tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh, cung cấp cho ban lãnh đạo những thông tin cần thiết để xây dựng những kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Doanh thu a) Một số khái niệm về doanh thu Doanh thu bán hàng : Là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ các giao dịch nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng bao gồm các phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán( nếu có). Doanh thu hoạt động tài chính : Bao gồm những khoản thu từ hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn mang lại như : tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia, khoản lãi về chênh lệch tỉ giá hối đoái, thu nhập về các khoản đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, thu nhập về hoạt động đầu tư khác vào công ty liên kết, công ty con, đầu tư khác và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.
Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm : - Tiền lãi : lãi cho vay, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hóa, dịch vụ ;… - Cở tức lợi nhuận được chia ; - Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn ; Sinh viên: Trần Thị Thu Hương – QT1702K 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG - Thu nhập về thu hồi hoặc thanh lí các khoản vốn góp liên doanh. Dầu tư vào công ty liên kết, đầu vào công tư con, đầu tư vốn khác ; - Lãi tỷ giá hối đoái ; - Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ ; - Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn ; - Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác ; Thu nhập khác : Là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc có dự tính đến nhưng ít khả năng thực hiện hoặc là những khoản không mang tính chất thường xuyên. - Thu về nhượng bán, thanh lí TSCĐ ; -Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng ; -Thu tiền bảo hiểm được bồi thường ; -Thu được các khoản nợ phải trả không xác định được chủ ; -Các khoản thuế được Ngân Sách Nhà Nước hoãn lại ; -Các khoản tiền thưởng của khách hàng ; -Thu nhập do nhận tặng, biếu bằng tiền, hiện vật của tổ chức, cá nhân tặng cho doanh nghiệp ; b) Thời điểm ghi nhận doanh thu Ghi nhận doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa. - Ghi nhận doanh thu bán hàng hóa, sản phẩm khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau : + Doanh thu đã chuyển giao phần lơn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyến sở hữu hàng hóa cho người mua.
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lí hàng hóa như người sở hữu hàng hóa. + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. + Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
-Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi nhận như : Sinh viên: Trần Thị Thu Hương – QT1702K 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG + Doanh nghiệp vẫn còn phải chịu trách nhiệm để đẩm bảo cho tài sản được hoạt động bình thường, mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường. + Việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắn vì phụ thuộc vào người mua. + Hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt đó là 1 phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành. + Khi người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng vì một lí do nào đó được nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bi trả lại hay không.