Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ chế thị trường, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế cơ bản, phản ánh chất lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tồn tại, nâng cao năng lực cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận, các đơn vị sản xuất buộc phải kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào, loại bỏ các chi phí bất hợp lý nhằm hạ giá thành sản phẩm. Việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất chính xác và tính đúng giá thành là cơ sở để doanh nghiệp định giá bán, xác định kết quả kinh doanh và đề ra các quyết định quản trị phù hợp. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Thị Bé (sinh viên lớp KT 1A, Trường Đại học Công Đoàn) dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đặng Thị Loan đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
- Khảo sát, phân tích và phản ánh thực trạng tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức (trong hồ sơ doanh nghiệp thể hiện tên pháp lý là Công ty Cổ phần Sơn Đức Việt).
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, phù hợp với đặc thù sản xuất của đơn vị.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Về phạm vi không gian, nghiên cứu được thực hiện tại Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức, trọng tâm là phân xưởng sản xuất sơn nước tại trụ sở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Về phạm vi thời gian, các số liệu thực tế được tác giả thu thập và khảo sát chi tiết trong tháng 11 năm 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các quy định pháp lý và nguyên lý kế toán doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Về mặt khái niệm, chi phí sản xuất được xác định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong một thời kỳ nhất định để thực hiện quá trình sản xuất. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí lao động sống và lao động vật hóa liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành được biểu diễn qua phương trình:
$$\text{Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành} = \text{Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ} + \text{Chi phí SX phát sinh trong kỳ} - \text{Chi phí SXKD dở dang cuối kỳ}$$
Tác giả hệ thống hóa các tiêu thức phân loại chi phí và giá thành phục vụ hạch toán và quản trị:
- Phân loại chi phí: theo yếu tố kinh tế (nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao tài sản cố định, dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền); theo khoản mục trong giá thành (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung); theo mối quan hệ với quy mô hoạt động (biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp); theo phương pháp tập hợp (trực tiếp, gián tiếp); theo nội dung cấu thành (chi phí đơn nhất, chi phí tổng hợp).
- Phân loại giá thành: theo thời điểm và nguồn số liệu (giá thành kế hoạch, giá thành định mức, giá thành thực tế); theo phạm vi phát sinh (giá thành sản xuất/công xưởng, giá thành toàn bộ/tiêu thụ).
- Phương pháp hạch toán và tính giá thành: các phương pháp tập hợp chi phí (theo sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng, nhóm sản phẩm); các phương pháp tính giá thành (phương pháp giản đơn/trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ, phương pháp liên hợp).
- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ: xác định theo chi phí nguyên vật liệu chính, theo sản lượng ước tính tương đương, theo 50% chi phí chế biến, theo chi phí trực tiếp, hoặc theo chi phí định mức/kế hoạch.
Hệ thống văn bản pháp lý được trích dẫn và áp dụng bao gồm Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ban hành Chế độ Kế toán doanh nghiệp, Quyết định 48/2006/QĐ-BTC về Chế độ Kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thông tư 103/2005/TT-BTC về tiêu chuẩn phần mềm kế toán, cùng các Thông tư 84/2008/TT-BTC, 129/2008/TT-BTC và 130/2008/TT-BTC hướng dẫn các luật thuế.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng là phương pháp quan sát, thu thập tài liệu, phân tích - tổng hợp số liệu thực tế từ hệ thống chứng từ ban đầu (phiếu xuất kho, bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, bảng phân bổ khấu hao), sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Nguồn dữ liệu thực chứng phản ánh nghiệp vụ kế toán phát sinh trong tháng 11 năm 2009 tại phân xưởng sản xuất của công ty.
Nội dung chính theo từng phần
Bố cục của khóa luận gồm lời mở đầu, kết luận và 3 phần nội dung chính theo văn bản:
Phần I: Cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Trong phần này, tác giả trình bày bản chất kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành. Nội dung hạch toán được phân định rõ theo hai phương pháp kế toán hàng tồn kho:
- Phương pháp kê khai thường xuyên: Sử dụng các tài khoản tập hợp chi phí gồm TK 621 (Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp), TK 622 (Chi phí nhân công trực tiếp), TK 627 (Chi phí sản xuất chung) mở chi tiết các tài khoản cấp 2 (TK 6271 đến TK 6278). Cuối kỳ, toàn bộ chi phí được kết chuyển vào bên Nợ TK 154 (Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang) để tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm hoàn thành nhập kho (TK 155), gửi bán (TK 157) hoặc bán thẳng (TK 632).
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: Phản ánh biến động chi phí qua TK 611 (Mua hàng), kết chuyển chi phí trực tiếp cuối kỳ vào TK 631 (Giá thành sản xuất) để xác định giá trị sản phẩm hoàn thành chuyển sang TK 632.
Tác giả phân tích quy trình tổ chức tính giá thành trong các loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp sản xuất giản đơn; doanh nghiệp sản xuất theo đơn vị đặt hàng; doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất phụ (áp dụng phương pháp đại số, phân bổ lẫn nhau theo giá thành đơn vị ban đầu, hoặc giá thành kế hoạch); doanh nghiệp áp dụng hệ thống kế toán theo định mức; doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục (tính giá thành phân bước theo phương án có tính giá thành bán thành phẩm hoặc không tính giá thành bán thành phẩm). Đồng thời, tác giả mô tả trình tự luân chuyển chứng từ và ghi chép trên 5 hình thức sổ kế toán: Nhật ký chứng từ, Nhật ký chung, Nhật ký - Sổ cái, Chứng từ ghi sổ và Kế toán trên máy vi tính.
Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sơn Đức Việt
Tác giả giới thiệu tổng quan về Công ty Cổ phần Sơn Đức Việt (tên giao dịch quốc tế: GERMANY-VIETNAMESE PAINT STOCK COMPANY, tên viết tắt: gv paint.jsc; giấy phép ĐKKD số 0103036822; vốn điều lệ 20 tỷ đồng; trụ sở tại xóm 2, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội; người đại diện pháp luật là ông Huỳnh Quang Long - Giám đốc). Công ty hình thành từ kết quả hợp tác nghiên cứu giữa nhóm chuyên viên kỹ thuật K33 Đại học Bách Khoa Hà Nội với các tập đoàn nước ngoài (Worlee_chemie GMBH - Đức, Facol chemical - Mỹ, Cappelle - Bỉ), chuyên sản xuất các dòng sơn trang trí, sơn chống thấm mang thương hiệu Rosman và Flasilk. Các công trình tiêu biểu sử dụng sản phẩm gồm: Trường học Nhật Bản Sao Nam Cực (15 tầng tại Phú Mỹ Hưng), Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lâm Đồng, Bến cảng Nhà Rồng, Nhà khách Chính phủ Bộ Ngoại giao (12 Ngô Quyền), Trụ sở Cục Cảnh sát Môi trường (499 Nguyễn Trãi).
Bộ máy quản lý gồm Giám đốc, Phó Giám đốc kinh doanh, Phó Giám đốc kỹ thuật cùng 7 phòng ban/bộ phận: Phòng Kỹ thuật công nghệ, Phòng Thí nghiệm KSC, Phòng Điều hành trung tâm, Phòng Tổ chức lao động, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Kinh doanh và Bộ phận sản xuất. Quy trình công nghệ sản xuất sơn nước diễn ra liên tục tại một phân xưởng: Đá vôi kích thước 250-300mm qua máy đập búa nghiền về cỡ hạt 20-25mm, chuyển sang hòa trộn cùng nước, nhựa, phụ gia, oxit titan và cao lanh; sau đó khuấy đều, đưa vào máy nghiền hạt ngọc; nếu sản xuất sơn trắng thì chuyển sang đóng thùng, nếu sản xuất sơn màu thì qua thiết bị pha màu trước khi đóng thùng.
Bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình tập trung gồm 7 nhân sự: Kế toán trưởng, Kế toán vật tư, Kế toán tiền lương, Kế toán công nợ, Kế toán tài sản cố định, Kế toán tiêu thụ và Thủ quỹ. Công ty áp dụng Chế độ Kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC (chuyển đổi từ Quyết định 48/2006/QĐ-BTC từ năm 2007), hình thức sổ Nhật ký chung, phương pháp kê khai thường xuyên, nộp thuế GTGT khấu trừ, tính giá vật tư xuất kho theo phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO), kỳ kế toán theo năm dương lịch, xử lý dữ liệu qua phần mềm MISA SME version 7.
Thực tế hạch toán chi phí tại phân xưởng sản xuất trong tháng 11/2009:
- Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621): Chi tiết thành TK 6211 (NVL chính: Bột đá MS3, Cao lanh S100, Bột oxit titan, Nhựa HV 50A, Bột đá MS1, Cao lanh men, Natrosol HHBR, Sudium HSMP...) và TK 6212 (NVL phụ: vỏ thùng). Quy trình cấp phát vật tư căn cứ vào Giấy lĩnh vật tư, duyệt kỹ thuật, lập Phiếu xuất kho 3 liên (Phiếu số 125, 126, 127, 128). Cuối tháng, chi phí NVLTT được kết chuyển vào TK 154 với số tiền 30.870 đồng.
- Kế toán chi phí nhân công trực tiếp (TK 622): Chi tiết theo các tổ công nghệ gồm TK 6221 (tổ trộn), TK 6222 (tổ nghiền), TK 6223 (tổ pha màu), TK 6224 (tổ đóng thùng). Công nhân hưởng lương theo sản phẩm hoàn thành nhân với đơn giá phê duyệt. Công ty không trích trước lương nghỉ phép mà chi trả theo ngày công nghỉ thực tế. Tỷ lệ trích các khoản theo lương tính vào chi phí sản xuất là 19% (BHXH 15%, BHYT 2%, KPCĐ 2%); người lao động đóng 6% trừ vào lương (BHXH 5%, BHYT 1%). Bảng phân bổ tiền lương tháng 11/2009 ghi nhận chi phí lương trực tiếp là 63.000 đồng, các khoản trích theo lương là 11.595 đồng; tổng số tiền kết chuyển sang TK 154 là 75.095 đồng.
- Kế toán chi phí sản xuất chung (TK 627): Tập hợp các chi phí phát sinh tại phân xưởng, trong đó có chi phí trích khấu hao tài sản cố định ngày 30/11/2009 là 12.780 đồng; tổng chi phí sản xuất chung kết chuyển sang TK 154 cuối tháng là 44.510 đồng.
Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức
Theo kết cấu công bố ở phần mở đầu, phần này được xây dựng nhằm đề xuất các khuyến nghị xuất phát từ hạn chế trong tổ chức hạch toán chi phí và tính giá thành tại Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức. Tuy nhiên, trong bản văn bản cung cấp, nội dung chi tiết của Phần III bị gián đoạn ngay sau Biểu 4 (Trích sổ Cái TK 622), do đó các kiến nghị cụ thể của tác giả không xuất hiện trong tài liệu khảo sát.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã mô tả chi tiết thực tế vận hành hệ thống hạch toán chi phí tại một doanh nghiệp sản xuất sơn quy mô vừa và nhỏ trong giai đoạn chuyển đổi chế độ kế toán từ Quyết định 48 sang Quyết định 15. Dữ liệu hạch toán thực tế trong tháng 11/2009 được tác giả trích lục từ sổ Nhật ký chung và các sổ Cái tài khoản như sau:
| Khoản mục chi phí |
Tài khoản hạch toán |
Chứng từ / Bảng phân bổ chủ yếu |
Số phát sinh kết chuyển sang TK 154 (đồng) |
| Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp |
TK 621 (TK 6211, TK 6212) |
Phiếu xuất kho số 125, 126, 127, 128; Bảng tổng hợp vật tư xuất dùng |
30.870 |
| Chi phí nhân công trực tiếp |
TK 622 (TK 6221 đến TK 6224) |
Bảng chấm công, Bảng thanh toán lương (mẫu 01a-LĐTL), Bảng phân bổ tiền lương và BHXH (mẫu 11 LĐTL) |
75.095 |
| Chi phí sản xuất chung |
TK 627 |
Bảng tính trích khấu hao TSCĐ, hóa đơn dịch vụ |
44.510 |
| Tổng cộng chi phí sản xuất kết chuyển |
TK 154 |
Sổ Nhật ký chung, Sổ Cái TK 154 |
150.475 |
Về mặt đóng góp so với nghiên cứu lý luận, khóa luận phản ánh rõ tính đặc thù của quy trình công nghệ sản xuất sơn nước (nghiền - trộn - pha màu - đóng thùng) tác động trực tiếp đến việc tổ chức tài khoản chi tiết:
- Phân định rõ tài khoản cấp 2 của chi phí nhân công theo từng tổ sản xuất kỹ thuật (TK 6221, TK 6222, TK 6223, TK 6224) thay vì hạch toán chung toàn phân xưởng.
- Thể hiện sự phối hợp luân chuyển chứng từ giữa phòng Kỹ thuật công nghệ, phòng Thí nghiệm KSC và phòng Kế toán tài chính trong việc duyệt định mức kỹ thuật trước khi xuất kho vật tư.
- Khảo sát thực tế quy trình ứng dụng phần mềm kế toán đóng gói MISA SME version 7 trên nền tảng hình thức sổ Nhật ký chung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định và giới hạn từ phạm vi tài liệu:
- Tác giả tự nhận trình độ nghiên cứu còn hạn chế, thời gian tiếp cận thực tế ngắn nên khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót trong nội dung và hình thức trình bày.
- Phạm vi khảo sát số liệu thực tế bị thu hẹp trong một tháng duy nhất (tháng 11/2009) tại một phân xưởng sản xuất, chưa bao quát biến động chi phí qua các mùa vụ sản xuất trong năm của ngành sơn.
- Bản văn bản lưu trữ bị ngắt quãng sau Biểu 4, thiếu hụt nội dung tính giá thành thành phẩm chi tiết cuối kỳ cho từng mã sản phẩm hoàn thành nhập kho (Rosman, Flasilk) và toàn bộ các giải pháp hoàn thiện tại Phần III.
Hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện: Khảo sát chu kỳ sản xuất trọn vẹn cả năm tài chính, hạch toán và tính toán chi tiết giá thành đơn vị từng loại sản phẩm hoàn thành đạt chuẩn, đánh giá chi tiết giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ theo từng công đoạn, và hoàn thiện hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị chi phí.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo cụ thể cho sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Tài chính doanh nghiệp đang thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đề tài tập hợp chi phí và tính giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất hóa chất, vật liệu xây dựng hoặc sơn nước.
Phần cơ sở lý thuyết có giá trị tham khảo tốt về hệ thống tài khoản, các sơ đồ hạch toán theo cả hai phương pháp (kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ) và các hình thức sổ kế toán truyền thống. Phần thực trạng cung cấp mẫu biểu chứng từ thực tế có giá trị áp dụng cao, gồm mẫu Phiếu xuất kho vật tư, Bảng thanh toán lương tổ sản xuất, Bảng phân bổ tiền lương và BHXH, cùng các trích đoạn ghi sổ Nhật ký chung và sổ Cái TK 621, TK 622 trong môi trường phần mềm MISA SME.
Câu hỏi thường gặp
1. Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức áp dụng chế độ kế toán và hình thức sổ nào trong giai đoạn khảo sát?
Từ năm 2007, công ty chuyển từ Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC sang áp dụng Chế độ Kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Hình thức sổ kế toán được đơn vị vận dụng là hình thức Nhật ký chung, kết hợp ứng dụng phần mềm kế toán MISA SME version 7.
2. Quy trình công nghệ sản xuất sơn nước tại công ty gồm những công đoạn kỹ thuật nào?
Quy trình diễn ra liên tục tại một phân xưởng: Đá vôi kích thước 250-300mm đưa vào máy đập búa nghiền thành cỡ hạt 20-25mm; sau đó đưa vào hòa trộn cùng nước, nhựa, phụ gia, oxit titan và cao lanh; hỗn hợp được khuấy đều rồi chuyển vào máy nghiền hạt ngọc; sơn trắng hoàn thành được chuyển thẳng sang đóng thùng, còn các loại sơn màu được xử lý qua thiết bị pha màu trước khi đóng thùng.
3. Tỷ lệ trích các khoản theo lương tính vào chi phí sản xuất tại công ty là bao nhiêu?
Công ty thực hiện trích 19% tổng quỹ lương tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, bao gồm: Bảo hiểm xã hội (15%), Bảo hiểm y tế (2%) và Kinh phí công đoàn (2%). Phần người lao động đóng góp là 6% (BHXH 5%, BHYT 1%) được khấu trừ trực tiếp vào lương hàng tháng.
4. Tổng số tiền chi phí sản xuất kết chuyển vào TK 154 trong tháng 11/2009 là bao nhiêu?
Theo sổ Nhật ký chung ngày 30/11/2009, tổng chi phí sản xuất phát sinh trong tháng kết chuyển vào TK 154 là 150.475 đồng, bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621) là 30.870 đồng; Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622) là 75.095 đồng; Chi phí sản xuất chung (TK 627) là 44.510 đồng.
5. Đơn vị xuất kho vật tư theo phương pháp nào và sử dụng các tài khoản cấp 2 nào cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp?
Công ty tính giá trị vật tư xuất kho theo phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO). Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trên tài khoản 621 được theo dõi chi tiết qua hai tài khoản cấp 2 gồm TK 6211 (Chi phí nguyên vật liệu chính) và TK 6212 (Chi phí nguyên vật liệu phụ).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Bé đã khái quát toàn diện khung lý thuyết hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất theo chế độ kế toán Việt Nam. Đồng thời, công trình phản ánh chi tiết thực trạng luân chuyển chứng từ, phân bổ chi phí nguyên vật liệu, nhân công và chi phí sản xuất chung tại Công ty Cổ phần Sơn Việt Đức trong tháng 11/2009 trên phần mềm MISA SME. Mặc dù văn bản tài liệu bị gián đoạn ở phần tính giá thành thành phẩm cuối cùng và các giải pháp hoàn thiện, số liệu thực tế được trích dẫn vẫn cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu thực hành kế toán chi phí trong ngành sản xuất công nghiệp.