phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo chuyên đề báo cáo gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính gía thành công trình trong doanh nghiệp xây lắp Chƣơng 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình tại công ty Cổ phần môi trƣờng và công trình đô thị Bỉm Sơn. Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình tại Công ty Cổ phần môi trƣờng và công trình đô thị Bỉm Sơn. Nguyễn Thị Hương Quỳnh 3 Lớp K20B – ĐH Kế toán Khoá luận tốt nghiệp Trường đại học Hồng Đức CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không phải là một đề tài mới hay xa lạ. Tuy nhiên, đó lại là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này nhƣ: Tác giả: Nguyễn Thành Trung (2017) trong nghiên cứu về: “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP xây dựng Sông Mã số 8”. đã xác định đối tƣợng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP xây dựng Sông Mã số 8.
Về kết quả nghiên cứu: Đề tài đã tìm hiểu thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty, rút ra đƣợc những ƣu, nhƣợc điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty đối với việc cung cáp thông tin cho nhà quản trị. * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm như: Thứ nhất: Do sản phẩm xây lắp là cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất nhƣ lao động, máy móc. phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình, từ đó mà công tác quản lý, sử dụng, hạch toán vật tƣ, tài sản cũng trở nên phức tạp. Quá trình luân chuyển chứng từ từ khi phát sinh đến khi kế toán thu thập đƣợc và lên sổ là khoảng thời gian không phải là ngắn.
Sỡ dĩ do có sự cách biệt về địa lý giữa nơi phát sinh chi phí (công trƣờng thi công) và nơi tổng hợp chi phí để lên sổ ( phòng kế toán). Thứ hai: Cuối kỳ hạch toán, kế toán đã không kiểm kê lại vật tƣ còn lại, dễ gây thất thoát vật tƣ. Đối tƣợng tính giá thành là những công trình, hạng mục công trình, có lúc để kịp thời gian báo cáo, việc xác định đƣợc chi phí phát sinh diễn ra gấp gáp nên kết quả chƣa đƣợc chính xác. Thứ ba: Về tổ chức bộ máy kế toán: Công ty sử dụng kế toán trên máy vi tính nhƣng chƣa sử dụng phần mềm.
Tuy nhiên việc sử dụng nhƣ vậy còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu về cập nhật và xử lý thông tin. Thứ tư: Do đặc điểm sản xuất của ngành, Công ty có khối lƣợng công nhân lớn, bộ máy quản lý nhỏ nên việc quản lý toàn diện các công việc không đƣợc đảm bảo. Nguyễn Thị Hương Quỳnh 4 Lớp K20B – ĐH Kế toán Khoá luận tốt nghiệp Trường đại học Hồng Đức Mặt khác, công ty phải thƣờng xuyên thuê lao động bên ngoài. Hầu hết những lao động này là lao động thời vụ có trình độ chuyên môn và tay nghề thấp do không đƣợc đào tạo, nên việc đảm bảo kỹ thuật thi công là không tốt và có thể kéo dài thời gian thi công của công trình.
Thứ năm: Máy thi công của Công ty sẽ đƣợc điều động khi có công trình, nhƣng có những công trình thi công ở xa, Công ty sẽ phải thuê máy thi công ngoài. Chi phí thuê máy biến động lên xuống theo giá cả thị trƣờng , có thể sẽ không thuê đƣợc máy do chi phí cao, làm giảm tiến độ thi công. * Nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại đơn vị như sau: Thứ nhất: Với điều kiện thực tế hiện nay, để đẩy nhanh công tác hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ, chứng từ nhƣ về công nợ, quyết toán khối lƣợng hoàn thành.thì bộ phận kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các tổ đội thi công và các phòng ban chức năng của Công ty. Điều này sẽ giúp cho công tác kế toán đƣợc thực hiện kịp thời theo đúng thời gian nhằm tránh công việc dồn nén dễ tạo ra kết quả thiếu chính xác.
Thứ hai: Để tránh việc thất lạc, thất thoát hoặc chậm trẽ chứng từ, công ty cần có những biện pháp chặt chẽ khâu luân chuyển chứng từ nội bộ nhƣng vẫn đảm bảo tuần tự và phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận để kịp thời cung cấp chứng từ cho kế toán. Thứ ba: Trong xu thế của nền kinh tế thị trƣờng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng phải không ngừng cải tiến phƣơng pháp hoạt động của mình để có thể hội nhập với tốc độ phát triển của toàn cầu. Do đó, Công ty nên áp dụng phần mềm kế toán máy vào công tác kế toán, nhằm làm giảm nhẹ công việc cho nhân viên kế toán trong Công ty. Hiện nay trên thị trƣờng có nhiều phần mềm kế toán mà Công ty có thể tham khảo để lựa chọn nhƣ: Vas, Fast, Misa, Vacom.
Đồng thời, Công ty nên thuê tƣ vấn nâng cao tính năng, phát huy thêm các tác dụng của phần mềm kế toán, có những thay đổi phù hợp với chế độ, hệ thống sổ sách kế toán. Thứ tư: Vật tƣ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành nên việc quản lý chặt chẽ chi phí vật tƣ là rất cần thiết. Tại mỗi công trình, Công ty có bố trí thủ kho, nhân viên kế toán. Vì vậy, Công ty nên tận dụng lực lƣợng lao động này để tổ chức hạch toán chặt chẽ hơn nữa quá trình nhập vật tƣ về công trƣờng và quá trình xuất vật tƣ cho thi Nguyễn Thị Hương Quỳnh 5 Lớp K20B – ĐH Kế toán Khoá luận tốt nghiệp Trường đại học Hồng Đức công để làm sao tránh đƣợc sử dụng lãng phí, vừa đảm bảo đƣợc chất lƣợng công trình.
Vì vậy, kế toán nên kiểm kê số vật tƣ còn lại tại chân công trình để kiểm tra đƣợc định mức sử dụng vật tƣ, đồng thời ghi giảm chi phí, đảm bảo tính phù hợp chính xác của giá trị sản phẩm dở dang cũng nhƣ giá thành công trình trong kỳ hạch toán (chi phí và giá thành của toàn bộ công trình hoàn thành không thay đổi nhiều). Thứ năm: Công ty nên đầu tƣ, trang bị thêm máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại để hạn chế bớt việc thuê ngoài. Nó sẽ tạo điều kiện chủ động trong thi công công trình, tránh hiện tƣợng phụ thuộc vào sự lên xuống thất thƣờng của giá cả thị trƣờng. Mặt khác, việc đầu tƣ vào những tài sản lớn có giá trị tạo cơ hội trong cạnh tranh, đấu thầu và có thể vay cũng nhƣ chiếm dụng đƣợc những khoản vốn lớn khi có tài sản đảm bảo.Việc theo dõi chấm công cho tổ máy thi công chƣa hợp lý, vì trong sản xuất không phải lúc nào máy thi công cũng hoạt động.
Ngoài ra, cùng một máy thi công cùng một kỳ có thể tham gia thi công ở nhiều công trƣờng. Do đó, nên theo dõi hoạt động của máy thi công để làm cơ sở tính lƣơng cho công nhân điều khiển máy thi công và tính khấu hao cho máy chính xác, hợp lý. Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng ( 2018) ) với đề tài: “Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm của công ty cổ phần may xuất khẩu Thái Bình “ đã xác định: Về đối tƣợng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Thái Bình. Về kết quả nghiên cứu: Đề tài đã hệ thống những lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và vận dụng những lý luận đó vào thực tiễn để tìm hiểu và đánh giá thực trạng kế toán cho Công ty CP may xuất khẩu Thái Bình, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp nhất để hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
*Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm nhƣ: Thứ nhất, về trích trƣớc tiền lƣơng nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất. Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc nên số lƣợng CNTT sản xuất chiếm một tỉ trọng khá lớn (98%) trong tổng số lao động tại công ty. Nhƣng công ty lại không tiến hành trích trƣớc tiền lƣơng nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất, điều Nguyễn Thị Hương Quỳnh 6 Lớp K20B – ĐH Kế toán Khoá luận tốt nghiệp Trường đại học Hồng Đức này gây sự biến động lớn về chi phí sản xuất giữa các tháng trong năm làm ảnh hƣởng đến sự chính xác của việc tính giá thành. Thứ hai, phƣơng pháp khấu hao tài sản cố định.
Đối với một doanh nghiệp lớn nhƣ Công ty may xuất khẩu Thái Bình thì việc tất cả các TSCĐ đƣợc khấu hao theo phƣơng pháp đƣờng thẳng nhƣ hiện tại là không hợp lí và không phản ánh hiện trạng cũng nhƣ tình hình sử dụng. Có những TSCĐ hiện đƣợc huy động nhiều vào quá trình sản xuất bị hao mòn đáng kể nhƣng lại chƣa hết số năm sử dụng quy định trong chế độ, vẫn đƣợc tính khấu hao theo phƣơng pháp đƣờng thẳng. Điều đó làm sai lệch giá trị khấu hao với giá trị hao mòn thực tế của tài sản, gây hạn chế trong việc xây dựng các chiến lƣợc đầu tƣ thay thế, đổi mới làm giảm năng lực sản xuất. Thứ ba, về việc hạch toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ.
Công ty chƣa có kế hoạch trích trƣớc chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, trong khi đó với đặc thù là một doanh nghiệp may mặc, giá trị TSCĐ chiếm một tỉ trọng khá lớn trong cơ cấu tài sản của công ty. Khoản chi này đều đƣợc kế toán tính một lần về chi phí sản xuất kinh doanh trong kì phát sinh chi phí. Thứ tư, về chi phí dịch vụ mua ngoài.