CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG 1. CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM (QUALITY) 1. Khái niệm "Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn” (ISO 8402) (thực thể trong định nghĩa trên được hiểu là sản phẩm theo nghĩa rộng). Đối với nhà sản xuất, chất lượng có nghĩa là phải đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật đề ra cho sản phẩm.
Đối với người bán lẻ, chất lượng nằm trong mắt người mua. Đối với người tiêu dùng, chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu với chi phí thấp nhất. Các đặc điểm của chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm có những đặc điểm cơ bản sau: - Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được nhu cầu, không được thị trường chấp nhận thì được coi là sản phẩm chất lượng kém, cho dù công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất tiên tiến và hiện đại.
- Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng, vì vậy phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng. - Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần phải xem xét và chỉ xem xét đến mọi đặc tính của mọi đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụ thể, các nhu cầu tiềm ẩn cần được tìm ra và xác định. - Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể như: sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con người. Lê Thị Lan Hương Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 4 Trường ĐHBK Hà Nội - Cần phân biệt giữa chất lượng và cấp chất lượng.
Cấp chất lượng là thứ hạng định cho các đối tượng có cùng chức năng sử dụng nhưng khác nhau về yêu cầu chất lượng. Trong nền kinh tế thị trường thì chất lượng là kết quả của sự tác động hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu vì vậy khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua yếu tố giá cả và dịch vụ sau bán. Ngoài vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn cũng là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng.
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG (Quality managerment) 1. Khái niệm Quản lý chất lượng (QLCL) là: “ Tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng” (TCVN ISO 8402) a. Chính sách chất lượng (Quality Policy) Ý đồ và định hướng chung của chất lượng của một tổ chức do lãnh đạo cao nhất chính thức đề ra. Hoạch định chất lượng (Quality plan) Các hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu, yêu cầu đối với chất lượng và để thực hiện các yếu tố của hệ thống chất lượng.
Kiểm soát chất lượng: (Quality control): Những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp được sử dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu chất lượng. Đảm bảo chất lượng ( Quality Assurance): “Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng, và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự thỏ đáng rằng người tiêu dùng sẽ thoả mãn các yêu cầu của chất lượng đề ra”. (TCVN ISO 8402) Lê Thị Lan Hương Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 5 Trường ĐHBK Hà Nội Đảm bảo chất lượng sẽ không toàn diện nếu như các yêu cầu chất lượng đưa ra không phản ảnh toàn bộ những yêu cầu của người sử dụng. Cải tiến chất lượng (Improving Quality): Những hoạt động trong toàn bộ tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động và các quá trình.
Để tạo thêm lợi ích cho cả tổ chức và khách hàng. Hệ thống chất lượng (Quality system): Cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện quản trị chất lượng. (TCVN ISO 8402) Hệ thống chất lượng nhằm đảm bảo rằng khách hàng sẽ nhận được những gì mà hai bên đã thỏa thuận. Đối với doanh nghiệp (DN), mục đích quản lý là: - Làm thoả mãn khách hàng (khách hàng, người tiêu dùng, nhân viên trong DN, các cổ đông) - Làm thoả mãn các bên liên quan (xã hội, cơ quan quản lý, nhà cung cấp) - Duy trì DN tồn tại và phát triển bền vững.
Các nguyên tắc của quản lý chất lượng: 1. Định hướng bởi khách hàng Chất lượng định hướng bởi khách hàng là một yếu tố chiến lược, dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thị trường, duy trì và thu hút khách hàng. Nó đòi hỏi phải luôn nhạy cảm với khách hàng mới, những yêu cầu thị trường và đánh giá những yếu tố dẫn tới sự sự thoả mãn khách hàng. Nó cũng đòi hỏi ý thức phát triển công nghệ, khả năng đáp ứng mau lẹ và linh hoạt các yêu cầu của thị trường, giảm bớt sai lỗi, khuyết tật và những khiếu nại của khách hàng.
Sự lãnh đạo Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích, đường lối và môi trường nội bộ trong doanh nghiệp. Họ hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc Lê Thị Lan Hương Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 6 Trường ĐHBK Hà Nội đạt được các mục tiêu của doah nghiệp. Hoạt động chất lượng sẽ không có hiệu quả nếu không có sự cam kết triệt để của lãnh đạo. Sự tham gia của mọi thành viên Con người là nguồn lực quan trọng nhất của của một doanh nghiệp và sự tham gia đầy đủ với hiểu biết và kinh nghiệm của họ có thể sử dụng cho lợi ích của doanh nghiệp.
Thành công trong cải tiến chất lượng công việc phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng, nhiệt tình hăng say trong công việc của lực lượng lao động. Phương pháp quá trình Quá trình là một dãy các sự kiện nhờ đó biến đổi đầu vào thành đầu ra. Trong một doanh nghiệp, đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó, và toàn bộ các quá trình trong một doanh nghiệp lập thành một mạng lưới quá trình. Quá trình các hoạt động của doanh nghiệp thực chất là quản lý các quá trình và các mối quan hệ giữa chúng.
Tính hệ thống Cần phải xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến chất lượng một cách hệ thống và đồng bộ, phối hợp hài hoà các yếu tố này. Phương pháp hệ thống của quản lý là cách huy động, phối hợp toàn bộ nguồn lực để thực hiện mục tiêu chng của doanh nghiệp. Cải tiến liên tục Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp. Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao, doanh nghiệp phải luôn cải tiến.
Sự cải tiến có thể là từng bước nhỏ hoặc nhảy vọt. Quyết định dựa trên sự kiện Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên phân tích các dữ liệu và các thông tin. Việc đánh giá phải bắt nguồn từ chiến lược của doanh nghiệp, các quá trình quan trọng, các yếu tố đầu vào và kết quả của các quá trình đó. Lê Thị Lan Hương Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 7 Trường ĐHBK Hà Nội 1.
Phát triển quan hệ hợp tác Các doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ hợp tác cả nội bộ và với bên ngoài để đạt được mục tiêu chung. Các mối quan hệ nội bộ có thể bao gồm các quan hệ giữa lãnh đạo với người lao động, giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp, giữa các tổ chức đoàn thể với lãnh đạo, giữa người lao động với nhau. Các mối quan hệ bên ngoài là những mối quan hệ bạn hàng, người cung ứng, đối thủ cạnh tranh, các tổ chức đào tạo. VAI TRÒ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Vai trò của chất lượng đối với doanh nghiệp Cạnh tranh là một trong những qui luật phổ biến của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, các doanh nghiệp sử dụng các “vũ khí” cạnh tranh như: chất lượng, giá cả, thời hạn giao hàng, các hoạt động dịch vụ và hoạt động xúc tiến bán hàng .làm cơ sở để tồn tại và phát triển. Nhưng ngày nay trong bối cảnh quốc tế hoá, với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) và Tổ chức Hàng rào Kỹ thuật đối với thương mại (TBT), mọi nguồn lực và sản phẩm ngày càng tự do vượt biên giới quốc gia. Sự phát triển mang tính toàn cầu trên có những đặc điểm sau: - Hình thành thị trường tự do ở cấp khu vực và quốc tế.
- Phát triển mạnh mẽ các phương tiện chuyên chở, giá rẻ, nhanh. - Các doanh nghiệp và các nhà quản lý năng động hơn. - Hệ thống thông tin nhanh, kịp thời và rộng khắp. - Sự bão hoà của nhiều thị trường chủ yếu.
- Đòi hỏi chất lượng cao trong khi sự suy thoái kinh tế là phổ biến. - Phân hóa khách hàng bán lẻ và khách hàng công nghiệp. Các đặc điểm trên đã khiến cho chất lượng ngày càng trở thành một yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ. Do vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm của họ phải: Lê Thị Lan Hương Khoa Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 8 Trường ĐHBK Hà Nội - Được thị trường chấp nhận; - Đáp ứng các kỳ vọng của khách hàng; - Cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác; - Đủ điều kiện để hội nhập vào các thị trường khu vực và thế giới.
Vai trò của quản lý chất lượng đối với doanh nghiệp: Vì chất lượng ngày càng trở thành vũ khí cạnh tranh hàng đầu của doanh nghiệp, nhưng chất lượng sản phẩm là do chất lượng quản lý quyết định. Trong các hoạt động quản lý thì quản lý chất lượng là một trong những hoạt động có tính quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nó xuyên suốt toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp thường có một số nhận thức sai lầm sau: Chất lượng cao đòi hỏi chi phí lớn: Đây là quan niệm sai lầm phổ biến nhất.