CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại đơn vị sự nghiệp công lập a. Khái niệm Theo Phạm Duy Linh (2008), đơn vị sự nghiệp Nhà nước (đơn vị sự nghiệp công lập) được định nghĩa là “các đơn vị có hoạt động cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các hàng hóa, dịch vụ khác trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa thông tim, thể dục thể thao, nông – lâm ngư nghiệp, kinh tế., nhằm duy trì hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân.
Đặc tính chủ yếu của các đơn vị sự nghiệp là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính”. Dựa vào khả năng tự trang trải chi phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành đơn vị sự nghiệp có thu và đơn vị sự nghiệp thuần túy. Trong đó, đơn vị sự nghiệp có thu là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực “ văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình… Các đơn vị này thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Do hoạt động mang tính phục vụ để thực hiện các chức năng của Nhà nước là chủ yếu nên nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị này chủ yếu do NSNN cấp.
Ngoài ra gắn với chức năng hoạt động, các đơn vị này được Nhà nước cho phép tiến hành thu phí, lệ phí, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để bổ sung nguồn kinh phí NSNN cấp, tăng thu nhập cho người lao động. ” Theo Điều 2, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp công lập “do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp 8 luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Theo Điều 2, Nghị định số 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 10 năm 2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập: “Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế)”. Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ.
Đặc điểm Đơn vị sự nghiệp công lập có những đặc điểm cơ bản sau: - Đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội… Đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa. 9 - Hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập được trang trải từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp và từ các nguồn kinh phí do nhà nước quy định như từ các khoản thu phí, lệ phí, thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, từ nguồn viện trợ, tài trợ, biếu, tặng, cho…theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. - Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập thường gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội như chương trình xoá mù chữ, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Phân loại Đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại như sau: - Theo Điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12, đơn vị sự nghiệp công lập được phân thành hai loại đó là: “ (1) Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự; (2) Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. - Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 loại: + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt 10 động thường xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị; + Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần cho hoạt động thường xuyên của đơn vị; ” + Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên là những đơn vị sự nghiệp có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Đặc điểm quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập a. Nguồn thu Kinh phí do NSNN cấp gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên.
Kinh phí cấp cho chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao. Kinh phí cấp cho chi không thường xuyên (nếu “ có) gồm kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao. Ngoài ra, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công gồm nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí, nguồn thu phí theo pháp luật về lệ phí, lệ phí được để lại chi theo quy định; 11 nguồn vốn vay viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật và nguồn thu khác. Chi phí - Chi thường xuyên gồm: + Chi tiền lương: chi trả lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công.
Khi Nhà “ nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị (NSNN không cấp bổ sung). ” + Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. + Trích khấu hao TSCĐ theo quy định: Tiền trích khấu hao tài sản hình thành từ nguồn vốn NSNN hoặc có nguồn gốc từ ngân sách được hạch toán “ vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. - Chi không thường xuyên: là khoản chi theo quy định đối với từng nguồn kinh phí không thường xuyên được cấp như: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (Đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ), kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao.
Tính tự chủ tài chính Mỗi đơn vị sự nghiệp công lập sẽ có mức độ tự chủ tài chính khác nhau. Theo Nghị định 16/2015 “Quy định tính tự chủ của đơn vị sự nghiệp, tính tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập” như sau: - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư “ Đơn vị này tự chủ nguồn kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển từ các nguồn thu của đơn vị. Đơn vị cũng chủ động trong việc chi thường xuyên. Đơn vị tự cân đối các nguồn tài chính, chủ động xây dựng danh mục dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.