CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÔNG NỢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về kế toán công nợ trong doanh nghiệp thương mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm các doanh nghiệp thương mại Theo quy định của Bộ luật thương mại 2005, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Doanh nghiệp thương mại là những đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích thực hiện các hoạt động trong kinh doanh thương mại, tổ chức mua bán hàng hóa nhằm mang lại lợi nhuận. Đây là một loại hình doanh nghiệp được quy định chặt chẽ bởi pháp luật và có những yêu cầu hết sức chặt chẽ về loại hàng hóa và hình thức hoạt động mà doanh nghiệp thương mại cần hiểu rõ và nắm bắt được trong công việc kinh doanh của mình. Đặc điểm doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ phát triển các nhu cầu sử dụng về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường từ đó đưa ra các phương án đáp ứng yêu cầu đó.
Là cầu nối trung gian giữa doanh nghiệp sản xuất và thị trường tiêu dùng. Doanh nghiệp thương mại là các doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng của sản phẩm thông qua việc tiếp thu ý kiến của khách hàng và đưa ra những sự thay đổi phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng. Doanh nghiệp thương mại còn làm nhiệm vụ giải quyết các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau. Bởi chỉ có như vậy thì mới có thể tạo nên một dây chuyền hoạt động sản xuất và kinh doanh hiệu quả.
Tạo nên một mô hình kinh doanh đem lại hiệu quả trong công việc này cho tất cả các doanh nghiệp tham gia thị trường này. Doanh nghiệp thương mại khi tiến hành đăng ký và hoạt động cần đăng ký đúng với mục đích hoạt động của mình với cơ quan pháp luật của Việt Nam. Đáp ứng được những yêu cầu trong việc hoạt động kinh doanh của mình. DNTM phụ thuộc trực tiếp vào số lượng lợi nhuận của mình để có thể tiếp tục thực hiện hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Do đó cần có sự quản lý và cân đối sao cho phù hợp nhất thì mới có thể hoàn thành tốt được công việc này. Doanh nghiệp thương mại gắn kết lợi nhuận của mình trực tiếp với nhân viên trong công ty. Chính vì vậy cần có những chính sách khuyến khích, khen thưởng phù hợp thì mới có thể SV: Đàm Mỹ Duyên 5 Lớp: K22KTB-BN Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Kim Phượng phát huy được hết khả năng từ nhân viên của mình.
Trách nhiệm với xã hội: doanh nghiệp thương mại đóng vai trò quan trọng điều tiết và phân phối hàng hóa với khách hàng và người tiêu dùng. Chính vì thế cần đảm bảo được chất lượng hàng hóa như đăng ký trong kinh doanh và sản xuất. Bảo vệ quyền lợi của khách hàng chính là bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp thương mại phải có nghĩa vụ với các loại thuế với cơ quan nhà nước.
Doanh nghiệp thương mại có trách nhiệm quan trọng với nền kinh tế quốc dân. Bởi liên quan trực tiếp với các mối quan hệ lớn trong xã hội giữa cung và cầu và cả các loại chi phí sản xuất. Vừa là cầu nối trung gian giữa người sản xuất và tiêu dùng. Điều chỉnh tỷ lệ cân đối trong sự phát triển của các nghành nghề kinh tế và đời sống hàng ngày.
Doanh nghiệp thương mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông tạo điều kiện không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, tích cực góp phần tăng tích lũy xã hội nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập mau chóng vào nền kinh tế thế giới. Doanh nghiệp thương mại thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã làm tốt việc phân phối hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu qua đó nâng cao mức hưởng thụ của người dân. Và khi mức sống của người dân được tăng lên thì vai trò của doanh nghiệp thương mại càng quan trọng. Doanh nghiệp thương mại có vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường nước ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đưa hàng hóa trong nước ra nước ngoài và nhập hàng hóa, thiết bị kỹ thuật.
Các loại hình doanh nghiệp thương mại hiện nay có rất nhiều loại hình doanh nghiệp và công ty thương mại mà bạn có thể lựa chọn thành lập cho mình gồm: - Công ty TNHH thương mại 1 thành viên, 2 thành viên; - Công ty cổ phần thương mại; - Công ty thương mại và dịch vụ; 1.2 Khái niệm và đặc điểm, nguyên tắc kế toán công nợ tại các doanh nghiệp thương mại Công nợ đề cập đến quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà mỗi doanh nghiệp đối với các khoản vốn do doanh nghiệp chiếm dụng hoặc bị chiếm dụng bởi các đối tượng SV: Đàm Mỹ Duyên 6 Lớp: K22KTB-BN Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Kim Phượng bên ngoài. Hay nói một cách dễ hiểu, công nợ xuất hiện khi doanh nghiệp phát sinh thanh toán tiền trong kỳ hoặc phát sinh các nghiệp vụ mua, bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ…với một cá nhân/tổ chức hoặc doanh nghiệp khác, số tiền còn lại nợ sang kỳ sau được gọi tắt là công nợ. Công nợ bao gồm hai loại chính: Công nợ phải thu và công nợ phải trả.1 Các khoản phải thu của khách hàng “Các khoản phải thu” là khoản nợ của các các nhân, tổ chức đơn vị bên trong và bên ngoài doanh nghiệp về số tiền mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và các khoản dịch vụ khác chưa thanh toán cho doanh nghiệp.
Khoản phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi. Công nợ phải thu bao gồm: Phải thu của khách hàng; phải thu nội bộ; thế chấp ký cược; ký quỹ; các khoản tạm ứng; các khoản phải thu khác. Theo như đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã nêu ở trên, trong bài khóa luận đi sâu nghiên cứu các khoản phải thu khách hàng. Các khoản phải thu của khách hàng: Cá nhân hoặc doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vì đã mua hàng hóa (sản phẩm hoặc dịch vụ) của doanh nghiệp mà chưa thanh toán.
Các khoản phải thu thường tồn tại dưới dạng tín dụng trong thời gian ngắn, từ vài ngày đến dưới 1 năm, vì vậy công ty cần ghi nhận các khoản phải thu vào bảng cân đối kế toán dưới dạng tài sản. Khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản phải thu. Khoản phải thu khách hàng là tài sản khá nhạy cảm với những gian lận như bị nhân viên chiếm dụng hoặc tham ô. Phải thu khách hàng có mối liên quan mật thiết đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do đó là đối tượng để sử dụng các thửu thuật thổi phồng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nợ phải thu khách hàng được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Tuy nhiên việc lập dự phòng phải thu khó đòi lại dựa vào ước tính của nhà quản lý nên dễ xảy ra sai sót và khó kiểm tra. SV: Đàm Mỹ Duyên 7 Lớp: K22KTB-BN Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Kim Phượng Nếu doanh nghiệp không có một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đối với chu trình bán hàng thì sẽ dẫn đến việc khó thu hồi các khoản nợ của khách hàng cũng như không thể phản ánh đúng tình hình tài chính của doanh nghiệp trên BCTC.2 Các khoản phải trả người bán Theo Chuẩn mực Kế toán chung (VAS 01) đoạn 18 có ghi rằng “nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà đơn vị phải thanh toan từ nguồn lực của mình”.
Công nợ phải trả bao gồm các khoản sau: Khoản tiền phải trả người bán, người nhận thầu, người cung cấp; Các khoản vay và nợ thuê tài chính; Tiền lương, thưởng, phụ cấp phải trả cho người lao động; Thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước; Các khoản phải trả nội bộ; Trái phiếu phát hành, các khoản nhận ký quỹ, ký cược; Các quỹ gồm: Quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ phát triển khoa học và công nghệ; Quỹ bình ổn giá; Các khoản phải trả, phải nộp khác như: các khoản trích theo lương; doanh thu chưa thực hiện, tài sản thừa chờ giải quyết,… Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả… Tương tự như công nợ phải thu, phạm vi nghiên cứu bài luận nghiên cứu chi tiết các khoản phải trả người bán. Các khoản phải trả người bán là các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ, người bán TSCĐ, BĐS ĐT, các khoản đầu tư tài chính theo hợp đồng kinh tế đã ký kết, các khoản nợ phải trả cho người nhận thầu, xây lắp dịch vụ. Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản. Khoản phải trả này gồm cả các khoản phải trả khi nhập khẩu thông qua người nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu ủy thác).
Khoản phải trả người bán phải theo dõi chi tiết cho từng đối tượng phải trả, trong chi tiết từng đối tượng phải trả, có cả số tiền ứng trước cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu xây lắp nhưng chưa nhận được sản phẩm, hàng hóa, dịch SV: Đàm Mỹ Duyên 8 Lớp: K22KTB-BN Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Kim Phượng vụ, khối lượng xây lắp đã hoàn thành bàn giao.3 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán công nợ trong doanh nghiệp thương mại Kế toán công nợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác kế toán của mỗi đơn vị. Hoạt động quản lý công nợ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của công ty, giúp tránh việc rơi vào tình trạng bị chiếm dụng vốn. Việc tổ chức kế toán công nợ một cách hiệu quả có thể góp phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của công ty, giúp hạn chế những khoản nợ xấu.
Với lượng vốn chủ sở hữu có hạn, doanh nghiệp không thể nào chi trả tất cả các khoản phát sinh trong hoạt động kinh doanh, dẫn đến phải chiếm dụng vốn của tổ chức khác làm phát sinh quan hệ nợ.