CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ HÌNH THỨC LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN CÓ SỬ DỤNG ĐẤT 1. Tổng quan về đấu thầu 1. Các khái niệm chung về đấu thầu Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đấu thầu, theo từ điển Bách khoa Việt Nam (do Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam biên soạn, xuất bản năm 1995), “Đấu thầu là phương thức giao dịch đặc biệt, người muốn xây dựng công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu và điều kiện xây dựng công trình để người nhận xây dựng công trình (người dự thầu) công bố giá mà mình muốn nhận. Người gọi thầu sẽ lựa chọn người dự thầu nào phù hợp với điều kiện của mình với giá thấp hơn.
Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sắm tài sản và xây dựng các công trình tư nhân và nhà nước”. Theo Luật Đấu thầu số 61 năm 2005, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Theo Luật Đấu thầu 43 năm 2013, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng DAĐT theo hình thức đối tác công tư, có SDĐtrên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Đấu thầu qua mạng là đấu thầu được thực hiện thông qua việc sử dụng hệthống mạng đấu thầu quốc gia.
Đấu thầu quốc tế là đấu thầu mà nhà thầu, nhà đầu tư trong nước, nước ngoài được tham dự thầu. Đấu thầu trong nước là đấu thầu mà chỉ có nhà thầu, nhà đầu tư trong nước được tham dự thầu. Theo khoản 22, điều 4, Luật Đấu thầu 43 năm 2013, Gói thầu là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc khối lượng mua sắm một lần, khối lượng 3 mua sắm cho một thời kỳ đối với mua sắm thường xuyên, mua sắm tập trung. Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu; là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.
Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Vai trò và đặc điểm của đấu thầu Hoạt động đấu thầu không những có vai trò quan trọng đối với Bên mời thầu - người mua mà còn có tác động tích cực tới các nhà thầu - người bán. Đối với Bên mời thầu - người mua, đấu thầu mang lại những lợi ích sau Tiếp cận với các nhà cung cấp mới, tiềm năng phát hiện ra sản phẩm thay thế. Mua với giá hợp lý nhất.
Hạn chế những tác động từ những mối quan hệ “tế nhị”. Tránh được sự tranh luận trong nội bộ đối với việc chọn nhà cung cấp. Hạn chế sự thông đồng giữa một số cá nhân của Bên mời thầu với Nhà thầu nâng cao uy tín của tổ chức, doanh nghiệp. Đối với Nhà thầu - người bán Tiếp cận với khách hàng mới, tiếp cận với các đối thủ cạnh tranh, tiếp cận với những quy định về mua sắm của các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện sản phẩm, mở rộng thị trường và khẳng định vị trí, nâng cao uy tín.
Vai trò thứ ba: đấu thầu mang lại lợi ích cho nền kinh tế - xã hội Tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình đổi mới kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin - cho” sang cơ chế cạnh tranh, thi đua. Điều này chúng ta có được bởi đặc tính nổi bật nhất của đấu thầu chính là cạnh tranh để đem lại hiệu quả cao nhất. Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo. Tạo động lực cho phát triển nhờ tăng cường công khai, công bằng bình đẳng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn Nhà nước cho các công trình công cộng.
Đặc điểm của đấu thầu Thứ nhất: cạnh tranh cao, số lượng người bán tham dự đông Bất cứ hoạt động mua bán nào cũng là sự lựa chọn của người mua và người bán. Tuy nhiên, sự lựa chọn trong hoạt động đấu thầu đặc biệt ở chỗ, người mua sẽ đưa ra yêu cầu và tổ chức 1 “cuộc thi” để những người bán nào có khả năng đến tham dự và cạnh tranh với nhau. Số lượng người bán tham dự trong hoạt động đấu thầu lớn hơn hẳn các hoạt động mua bán khác. Thứ hai: hàng hóa trong hoạt động đấu thầu thường có giá trị lớn, số lượng nhiều hoặc có yêu cầu khắt khe về kỹ thuật Để có thể tổ chức một cuộc thi cho nhiều người bán tham dự thì thông thường, người mua phải đem lại lợi ích cho họ bằng đơn đặt hàng số lượng lớn hoặc giá trị cao trong tương lai.
Hoặc một lý do khác người mua buộc phải tổ chức đấu thầu nếu áp dụng hình thức mua bán thông thường, sẽ rất khó tìm kiếm được những người bán có thể cung cấp cung cấp những hàng hóa dịch vụ có yêu cầu kỹ thuật đặc biệt. Thứ ba: trong đấu thầu có nhiều mức giá khác nhau mà các bên tham gia phải phân biệt được Ban đầu, bên mời thầu đưa ra một ngân sách có thể chấp nhận được người bán dựa vào đó giới thiệu những sản phẩm đạt đủ yêu cầu với mức thấp hơn hoặc bằng mức ngân sách của bên mời thầu. Mức ngân sách không phải là giá mua, nó là trần của sản phẩm thường gọi là giá gói thầu. Mỗi người bán sẽ đưa ra các mức giá khác nhau theo khả năng của mình.
Mức giá cuối cùng của sản phẩm sẽ là mức giá của nhà thầu trúng thầu và được đưa vào ký kết hợp đồng chính thức. Thứ tư: đối tượng mua sắm trong đấu thầu thường chưa xác định chính thức Bên mua đưa ra yêu cầu về sản phẩm dựa theo nhu cầu của mình nhưng họ không chỉ định rõ ràng sản phẩm đó phải là của nơi nào sản xuất, thương hiệu gì,. Bên dự thầu (bên bán) sẽ dựa vào những yêu cầu đó để xây dựng 5 phương án cung cấp sản phẩm cụ thể. Đối tượng mua sắm chỉ được xác định khi hoạt động đấu thầu kết thúc.
Thứ năm: trong đấu thầu và thực hiện hợp đồng có rất nhiều các khoản đặt cọc Khi tham gia đấu thầu, các nhà thầu tức là người bán phải thực hiện nhiều lần đặt cọc khác nhau trong cả quá trình tham dự đấu thầu và thực hiện hợp đồng như đảm bảo dự thầu, đảm bảo thực hiện hợp đồng, đảm bảo tạm ứng vốn. Vì việc tổ chức đấu thầu diễn ra phức tạp và đòi hỏi khá nhiều chi phí như lập hồ sơ mời thầu, thành lập tổ chuyên gia đấu thầu, tổ thẩm định, tổ chức lễ mở thầu và để đảm bảo việc tham dự thầu và thực hiện hợp đồng của nhà thầu là nghiêm túc, có trách nhiệm,… nên những khoản đặt cọc này nhằm đảm bảo cho cuộc thầu thành công và bên mời thầu không bị thiệt hại khi nhà thầu bỏ cuộc giữa chừng. Thứ sáu: Tiêu chí lựa chọn Trong hoạt động đấu thầu, tiêu chí lựa chọn quan trọng nhất là kỹ thuật, chất lượng, tiến độ và điều kiện bảo hành, bảo trì. Trong các hoạt động mua sắm khác, đôi khi tiêu chí lựa chọn là giá cả, mối quan hệ,.
tùy theo mục tiêu hướng tới của các bên tham gia. Nhưng trong đấu thầu, kỹ thuật, chất lượng, tiến độ là tiêu chí tiên quyết cho mọi đánh giá. Vì bên mời thầu luôn đưa ra mức giá trần cho nhà thầu nên giá cả không phải yếu tố quan tâm đầu tiên và duy nhất, chỉ cần nhỏ hơn và bằng mức trần cho phép. Tất cả hồ sơ dự thầu đều được đánh giá kỹ càng về kỹ thuật, chất lượng, tiến độ, những nhà thầu nào vượt qua được yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, tiến độ mới xem xét tới giá cả.
Bản thân hoạt động đấu thầu đã thể hiện chất lượng của hoạt động mua bán trao đổi. Thứ bảy: Hoạt động đấu thầu là đối tượng điều chỉnh của nhiều đạo luật như: Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Thương mại, Thuế, Dân sự, Hình sự, Phòng chống tham nhũng, Cán bộ công chức,… 6 Thứ tám : Nhiều công việc nhạy cảm, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, là đối tượng được kiểm toán, thanh tra, kiểm tra thường xuyên. Quy định trong lĩnh vực đấu thầu nghiêm ngặt, gò bó khiến cho việc đấu thầu “đúng’ trở nên quan trọng ngang với “hiệu quả’. Thứ chín: Hoạt động đấu thầu phải hoàn toàn công khai dưới sự giám sát chặt chẽ của công chúng và chịu trách nhiệm trước Chính phủ và cử tri.
Các nguyên tắc của đấu thầu Để đảm bảo mục đích là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì hoạt động đấu thầucần tuân thủ những nguyên tắc sau: Cạnh tranh (Competition) Bên mời thầu phải tạo điều kiện thuận lợi để nhiều nhà thầu có thể tham gia Tính cạnh tranh là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Nguyên tắc này xuất hiện là do gói thầu mua sắm công về cơ bản sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, được đóng góp từ tiền thuế của nhân dân. Do đó, không cá nhân hay tổ chức nào được phép thao túng quá trình lựa chọn nhà thầu để làm lợi cho riêng mình hay nói cách khác, mọi cá nhân hay tổ chức đáp ứng yêu cầu của gói thầu được phép nộp hồ sơ dự thầu. Từ góc độ kinh tế, “ cạnh tranh” tức là cho phép tất cả các chủ thể kinh tế đưa ra giá cả đối với hàng hóa hay dịch vụ theo nhu cầu của thị trường; các mức phản ánh cung và cầu đối với loại hàng hóa hay dịch vụ đó.
Cạnh tranh giữa các nhà thầu giúp BMT mua được hàng hóa hay dịch vụ tốt nhất, hiệu quả nhất.