CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Khái quát về dự án đầu tư 1. Khái niệm đầu tư, dự án đầu tư +Khái niệm đầu tư: Theo quan điểm của chủ đầu tư (Doanh nghiệp) : “Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận”. Theo quan điểm của xã hội (Quốc gia) : “Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế – xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia”.
+Khái niệm dự án đầu tư: Theo quy chế đầu tư và xây dựng : “ Dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)” Theo tài liệu thẩm định dự án đầu tư: “ Dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định ”. Dưới giác độ ngân hàng thì: Dự án đầu tư sẽ là một luận giải để ngân hàng xem xét việc cung ứng vốn cho chủ đầu tư. Yêu cầu của một dự án đầu tư Một dự án đầu tư có tính thuyết phục đòi hỏi đảm bảo đầy đủ các yêu cầu chủ yếu sau: - Tính khoa học: thể hiện ở tính chung thực của thông tin, đảm bảo độ chính xác của các số liệu và phương pháp tính toán, lý giải các nội dung logic. Hoàng Sỹ Nguyên Lớp: CQ46/16.02 12 Học Viện Tài Chính Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp - Tính khả thi: dự án đầu tư phải có khả năng ứng dụng vào thực tế.
- Tính pháp lý: Việc lập và trình bày phải tuân theo những quy định chung, không được vi phạm những điều cấm về an ninh, quốc phòng, môi trường, thuần phong mỹ tục, không trái pháp luật, chính sách của nhà nước. - Tính hiệu quả: Tính hiệu quả của một dự án đầu tư được phản ánh thông qua chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà dự án mang lại. Phân loại dự án đầu tư Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô và thời hạn và được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một dự án được xếp vào nhóm này hay nhóm khác là tùy thuộc vào mục đích, phạm vi và yêu cầu nghiên cứu, xem xét.
Sau đây là một số cách phân loại dự án nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý, theo dõi và đề ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả của các họat động đầu tư theo dự án. Theo tính chất dự án đầu tư - Dự án đầu tư mới: Là họat động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình thành các công trình mới. Thực chất trong đầu tư mới, cùng với việc hình thành các công trình mới, đòi hỏi có bộ máy quản lý mới. - Dự án đầu tư chiều sâu: Là họat động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm cải tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá, đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, dịch vụ; trên cơ sở các công trình đã có sẵn.
Thực chất trong đầu tư chiều sâu, tiến hành việc cải tạo mở rộng và nâng cấp các công trình đã có sẵn, với bộ máy quản lý đã hình thành từ trước khi đầu tư. - Dự án đầu tư mở rộng: Là dự án nhằm tăng cường nâng lực sản xuất – dịch vụ hiện có nhằm tiết kiệm và tận dụng có hiệu quả công suất thiết kế của năng lực sản xuất đã có. Theo nguồn vốn - Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước: Vốn trong nước là vốn hình thành từ nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân, bao gồm: Vốn ngân sách nhà Hoàng Sỹ Nguyên Lớp: CQ46/16.02 13 Học Viện Tài Chính Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, các nguồn vốn khác. - Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài: Vốn ngoài nước là vốn hình thành không bằng nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân, bao gồm: Vốn thuộc các khoản vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành cho đầu tư phát triển( kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA), vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn đầu tư của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ quan nước ngoài khác đầu tư xây dựng trên đất Việt Nam, vốn vay nước ngoài do Nhà nước bảo lãnh đối với doang nghiệp.
Theo ngành đầu tư - Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là họat động đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội. - Dự án đầu tư phát triển công nghiệp: Là họat động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình công nghiệp. - Dự án đầu tư phát triển nông nghiệp: Là họat động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình nông nghiệp. - Dự án đầu tư phát triển dịch vụ: Là họat động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình dịch vụ( thương mại, khách sạn – du lịch, dịch vụ khác.
Theo sự phân cấp quản lý dự án (theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư): - Dự án nhóm A: là những dự án thuộc thẩm quyền của Bộ Kế Hoạch Đầu tư quyết định. - Dự án nhóm B: là những dự án thuộc thẩm quyền của Bộ và cơ quan ngang Bộ quyết định. - Dự án nhóm C: là những dự án thuộc thẩm quyền của Sở Kế Hoạch và Đầu tư quyết định. Theo hình thức thực hiện có: Hoàng Sỹ Nguyên Lớp: CQ46/16.02 14 Học Viện Tài Chính Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp - Dự án BOT: là những dự án được đầu tư theo hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao - Dự án BTO: là nhưng dự án được đầu tư theo hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh.
- Dự án BT: là những dự án được đầu tư theo hợp đồng xây dựng – chuyển giao. Theo cấp độ nghiên cứu gồm 2 loại: - Dự án tiền khả thi. - Dự án khả thi. Theo các giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội: - Dự án đầu tư thương mại.
- Dự án đầu tư sản xuất. Chu trình dự án đầu tư Chu trình dự án đầu tư là các thời kỳ và các giai đoạn mà mỗi dự án cần phải trải qua, bắt đầu từ thời điểm có ý định đầu tư, cho đến thời điểm kết thúc dự án. Chu trình dự án đầu tư gồm 3 thời kỳ: Thời kỳ 1: Chuẩn bị dự án: được tính từ khi nghiên cứu cơ hội đầu tư đến khi có quyết định đầu tư. Bao gồm các giai đoạn sau: Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Nghiên cứu cơ hội đầu tư( Nghiên cứu tiền khả thi( dự Nghiên cứu khả hình thành ý tưởng đầu kiến quy mô vốn, thị trường, kỹ thi ( hồ sơ thẩm tư, bản giới thiệu cơ hội thuật, công nghệ, môi trường, định, hồ sơ phê đầu tư, tìm đối tác đầu tư) tài chính, quản lý, nhân lực.) duyệt) Hoàng Sỹ Nguyên Lớp: CQ46/16.02 15 Học Viện Tài Chính Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Thời kỳ 2: Thực hiện dự án: được tiến hành từ khi có quyết định đầu tư tới khi thực hiện xong công trình.
Bao gồm các giai đoạn sau: Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Xây dựng công trình dự án( chuẩn bị Dự án họat động( chương trình sản xây dựng, thiết kế chi tiết, xây lắp, xuất, công suất sử dụng, giá tri còn lại nghiệm thu đưa vào họat động) vào năm cuối của dự án) Thời kỳ 3: Kết thúc dự án: là giai đoạn đưa dự án vào khai thác sử dụng. Nó được bắt đầu khi công trình xây dựng xong đến khi thanh lý dự án. Bao gồm các giai đoạn: Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Thanh lý, phát triển dự án mới. Đánh giá dự án sau khi thực hiện (thành công, thất bại, nguyên nhân) 1.
Vai trò của dự án đầu tư - Đối với nhà nước: dự án đầu tư tập hợp những lý lẽ luận chứng, luận giải của chủ đầu tư về mục đích đầu tư và phương thức tiến hành dự án của mình cho các cơ quan có thẩm quyền. Qua đó các cơ quan có thẩm quyền có cơ sở để xem xét, đánh giá, đưa ra kết luận về tính khả thi của dự án đặc biệt là những tác động của dự án đến môi trường kinh tế xã hội – điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cho phép đầu tư. Đồng thời dự án đầu tư khi được thực hiện góp phần đa dạng hóa các ngành nghề trong nền kinh tế, phát triển các ngành nghề mũi nhọn, trọng điểm của nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động từ đó góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Đối với chủ đầu tư: dự án đầu tư là bản mô tả chi tiết về ý tưởng kinh doanh của nhà đầu tư, do đó nó là phương tiện để truyền tải thông tin từ nhà đầu tư tới các chủ thể trong nền kinh tế.
Đối với nhà nước, dự án đầu tư giúp nhà đầu Hoàng Sỹ Nguyên Lớp: CQ46/16.02 16 Học Viện Tài Chính Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp tư có đủ điều kiện để được xem xét và cấp giấy phép đầu tư. Đối với đối tác và các tổ chức tín dụng, nhờ có dự án đầu tư nhà đầu tư mới có thể thuyết phục và thu hút sự quan tâm cũng như vốn đầu tư từ đối tác, vốn vay từ ngân hàng, từ đó có đủ tiềm lực để triển khai dự án, nâng cao tính cạnh tranh và phát triển kinh doanh. - Đối với ngân hàng: dự án đầu tư là căn cứ để thẩm định tính hiệu quả của hoạt động đầu tư, từ đó có quyết định tài trợ vốn thích hợp (loại hình cho vay, thời hạn, lãi suất. Việc tài trợ vốn cho dự án đem lại khoản thu nhập rất lớn cho các ngân hàng, nhưng đồng thời cũng chứa ẩn những rủi ro với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.