Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai sở hữu tổng diện tích tự nhiên 91.152 ha, được UNESCO công nhận là vùng lõi của Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai vào năm 2011. Tuy nhiên, việc bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc dụng đang đối mặt với thách thức quản trị nghiêm trọng khi có tới 412 hộ dân với 1.732 nhân khẩu sinh sống rải rác trên chiều dài hơn 20 km tại ấp 5, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu. Đáng chú ý, ấp 5 là địa bàn có tỷ lệ đói nghèo cao nhất toàn xã với 93 hộ nghèo chiếm 25,7% và 38 hộ cận nghèo chiếm 10,5% tổng số hộ.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh từ xung đột gay gắt giữa hai mục tiêu: bảo vệ nghiêm ngặt tài nguyên rừng đặc dụng và đảm bảo đời sống dân sinh. Chủ trương di dời hơn 1.300 hộ dân ra khỏi vùng lõi hình thành từ năm 2001 nhưng bị trì hoãn suốt 15 năm do thiếu hụt nguồn lực tài chính. Hệ quả là đời sống người dân rơi vào tình trạng tạm bợ, thiếu thốn hạ tầng thiết yếu, trong khi áp lực xâm hại tài nguyên rừng không ngừng gia tăng. Chỉ riêng trong năm 2014, lực lượng kiểm lâm địa phương đã phải xử lý 21 vụ vi phạm lâm luật, thu giữ 7.828 bẫy thú và ngăn chặn 1.386 lượt người vào rừng trái phép.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện hiện trạng tài sản sinh kế, phân tích mức độ tổn thương của cộng đồng dân cư dưới tác động của các rào cản chính sách, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm dung hòa yêu cầu bảo tồn thiên nhiên với phát triển kinh tế hộ gia đình. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 10/2014 đến tháng 7/2015 tại ấp 5, xã Mã Đà. Ý nghĩa của đề tài được khẳng định qua việc cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm giá trị, giúp các nhà hoạch định chính sách lượng hóa các tổn thất phúc lợi và tái cấu trúc mô hình quản lý rừng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh làm nền tảng lý luận xuyên suốt. Khung phân tích này định hình sinh kế thông qua sự tương tác chặt chẽ giữa 5 nguồn vốn cơ bản: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Khả năng tích lũy và chuyển hóa các nguồn vốn này chịu tác động trực tiếp bởi bối cảnh dễ bị tổn thương gồm các cú sốc thiên tai, dịch bệnh, các xu hướng suy thoái tài nguyên và tính mùa vụ trong sản xuất.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp các lý thuyết hiện đại về đồng quản lý tài nguyên rừng đặc dụng của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và các nghiên cứu của nhiều tác giả về chính sách giao đất lâm nghiệp tại Việt Nam. Ba khái niệm trọng tâm được vận dụng gồm: quyền tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, năng lực tự phục hồi sinh kế trước rủi ro và thể chế chuyển đổi công quyền. Khung lý thuyết giúp làm rõ cơ chế mà các quyết định hành chính tác động lên cơ cấu tài sản và chiến lược kiếm sống của từng nhóm hộ dân cư.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên tổng thể 362 hộ dân tại địa phương sau khi đã loại trừ 50 hộ thuộc diện ưu tiên di dời khẩn cấp. Quy mô mẫu khảo sát gồm 37 hộ, đạt tỷ lệ lấy mẫu xấp xỉ 10,2% tổng thể. Mẫu được phân bổ theo 4 tiêu chí cốt lõi: mức sống với 29,7% hộ nghèo và cận nghèo, 70,3% hộ không nghèo; ngành nghề chính gồm 24,3% nông nghiệp, 24,3% kinh doanh dịch vụ, 13,5% công nhân công nghiệp, 37,8% làm thuê và làm nghề rừng; khu vực cư trú gồm 37,8% tại cụm Đồng 4 và 62,2% tại cụm Bà Hào; cùng cơ cấu dân tộc trên địa bàn.

Phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp phỏng vấn bảng hỏi định lượng trực tiếp từng hộ gia đình trong thời gian từ 30 đến 120 phút, ghi âm kiểm chứng thông tin thực địa, cùng các cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ Chi cục Kiểm lâm, Ủy ban nhân dân xã Mã Đà và các chuyên gia phát triển nông thôn. Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng các công cụ thống kê mô tả, phân tích so sánh chéo giữa hai nhóm hộ nghèo và không nghèo. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh nhóm kết hợp đường phân phối thu nhập ngũ phân cho phép bộc lộ rõ nét khoảng cách bất bình đẳng và mức độ tổn thương cục bộ trong cộng đồng. Toàn bộ quy trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu được hoàn thành trong khung thời gian 9 tháng liên tục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm đã chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về sự suy giảm các nguồn vốn sinh kế:

Thứ nhất, về vốn con người và gánh nặng phụ thuộc, quy mô nhân khẩu bình quân của nhóm hộ nghèo là 5,00 người với tỷ lệ phụ thuộc lên tới 60%, cao hơn đáng kể so với mức 4,54 người và tỷ lệ phụ thuộc 36% ở nhóm hộ không nghèo. Tỷ lệ trẻ em nghỉ học sớm giai đoạn 2001-2015 ở hộ nghèo lên tới 57%, trong đó 100% nguyên nhân xuất phát từ kiệt quệ kinh tế gia đình và 65% học sinh dừng bước ngay sau khi hoàn thành bậc tiểu học. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của nhóm hộ nghèo chỉ đạt 5%, trong khi nhóm hộ không nghèo đạt 22%.

Thứ hai, về vốn tự nhiên và năng lực sản xuất, diện tích đất canh tác bình quân của hộ nghèo đạt dưới 0,5 ha, thấp hơn 7,6 lần so với mức 3,04 ha của hộ không nghèo. Do thiếu vốn đầu tư cải tạo đất và 67% diện tích canh tác của hộ nghèo không chủ động được nguồn nước tưới, thu nhập từ trồng trọt của hộ nghèo chỉ đạt 935.000 đồng/tháng trên 1.000 m2 đất, chưa bằng một nửa mức 2.182.000 đồng/tháng của hộ không nghèo.

Thứ ba, về vốn tài chính và rủi ro tín dụng, thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ nghèo chỉ đạt 942.000 đồng/tháng, suýt soát mức chi tiêu tối thiểu 875.000 đồng/tháng. Ngược lại, nhóm hộ không nghèo có thu nhập 2.386.000 đồng/tháng, tạo ra thặng dư tích lũy rõ rệt. Đáng lo ngại, có tới 27% hộ nghèo phải tìm đến tín dụng đen với lãi suất cao và 50% số tiền vay mượn bị tiêu tán vào việc trang trải chi phí chữa bệnh hoặc chi tiêu sinh hoạt khẩn cấp thay vì tái đầu tư sản xuất.

Thứ tư, về vốn vật chất và điều kiện sống, 100% hộ nghèo đang phải sống trong các căn nhà tạm bợ vách ván lợp tôn rách nát. Tại cụm dân cư Đồng 4, có 36% hộ nghèo hoàn toàn không có điện lưới sinh hoạt, phải dùng bình ắc quy; 36% hộ phải sử dụng trực tiếp nước suối tự nhiên chưa qua xử lý và 17% hộ không có công trình vệ sinh.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh một vòng xoáy nghèo đói luẩn quẩn và bẫy suy thoái sinh kế bắt nguồn từ sự đứt gãy giữa các nguồn vốn. Sự thiếu hụt trầm trọng về vốn đất đai và vốn tài chính đã triệt tiêu năng lực tích lũy của hộ nghèo, buộc họ phải duy trì phương thức sản xuất lạc hậu. Khi đối mặt với các cú sốc về bệnh tật hay mất mùa, các hộ này lập tức rơi vào cảnh nợ nần, dẫn đến việc phải rút con em ra khỏi nhà trường, làm suy kiệt vốn con người của thế hệ kế cận.

Khi dữ liệu được phân tích qua đường phân phối thu nhập ngũ phân tương tự mô hình đường cong Lorenz, mức độ phân hóa hiện lên vô cùng gay gắt: nhóm 40% hộ dân nghèo nhất chỉ nắm giữ khoảng 22% tổng thu nhập tích lũy của toàn bộ mẫu khảo sát. Bảng tổng hợp quan hệ tương tác giữa các nguồn vốn cũng chứng minh rằng việc thiếu hụt vốn vật chất công cộng như điện lưới, đường giao thông liên cụm và trường học là nguyên nhân trực tiếp cô lập người dân khỏi thị trường hàng hóa.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên bắt nguồn từ sự xung đột thể chế. Chủ trương di dời kéo dài 15 năm đã biến khu vực này thành vùng quy hoạch treo, khiến mọi dự án đầu tư hạ tầng dân sinh bị đình chỉ hoàn toàn. Bản hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp 50 năm theo quy định cũ không cho phép người dân xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất, không thể thế chấp vay vốn ngân hàng thương mại và bị cấm xây dựng nhà ở kiên cố. Tình trạng bấp bênh về quyền tài sản đã triệt tiêu động lực đầu tư dài hạn, đẩy người dân vào các hoạt động khai thác tận diệt lâm sản để sinh tồn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để xung đột giữa bảo tồn đa dạng sinh học và an sinh xã hội, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất thực hiện đồng bộ:

Thứ nhất, rà soát và chuyển đổi cơ chế quản lý đất lâm nghiệp giao khoán. Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Cửu phối hợp cùng Ban Quản lý Khu bảo tồn xác lập quyền canh tác ổn định lâu dài trên diện tích đất đã giao khoán, cho phép người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng. Mục tiêu cần đạt là nâng cao giá trị gia tăng trên 1.000 m2 đất canh tác thêm tối thiểu 30% trong lộ trình thực hiện từ năm 2016 đến năm 2018.

Thứ hai, triển khai dự án đầu tư khẩn cấp hạ tầng kỹ thuật và xã hội phân tán. Ban Quản lý các dự án huyện ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách để lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời công cộng và khoan 10 giếng nước ngầm tập trung cho cụm dân cư Đồng 4. Đồng thời, tổ chức tuyến xe buýt đưa đón học sinh đến trường trung học cơ sở tại trung tâm xã. Mục tiêu đề ra là đạt 100% hộ dân được cấp nước hợp vệ sinh và giảm tỷ lệ học sinh bỏ học bậc trung học cơ sở xuống dưới 15% trong giai đoạn 2016 - 2017.

Thứ ba, thiết lập chương trình tín dụng vi mô gắn kết đào tạo nghề nông thôn. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Vĩnh Cửu phối hợp chặt chẽ với Hội Phụ nữ xã Mã Đà triển khai các gói vay ủy thác lãi suất ưu đãi với hạn mức từ 15 đến 30 triệu đồng/hộ, kết hợp bắt buộc tập huấn kỹ thuật ghép cải tạo vườn điều và kỹ thuật chăn nuôi gia súc. Mục tiêu là triệt tiêu hoàn toàn tỷ lệ hộ nghèo phải vay tín dụng đen và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 40% trước năm 2018.

Thứ tư, xây dựng quy chế thể chế hóa mô hình đồng quản lý rừng đặc dụng và chia sẻ lợi ích sinh thái. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai cần sớm phê duyệt cơ chế giao khoán bảo vệ rừng đặc dụng có chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp cho các hộ dân địa phương, đồng thời ưu tiên tuyển dụng lao động bản địa vào các tổ tuần tra bảo vệ rừng và chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái. Mục tiêu tạo việc làm có thu nhập ổn định từ 2,5 đến 3,5 triệu đồng/tháng cho ít nhất 80 lao động thuộc nhóm làm nghề rừng tự do trong giai đoạn 2017 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia trên toàn quốc. Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận và số liệu thực chứng để đánh giá tác động chính sách di dời dân cư, từ đó tái hoạch định các phương án an sinh xã hội vùng lõi và vùng đệm rừng đặc dụng một cách nhân văn, hiệu quả.

Thứ hai, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phát triển và các quỹ tài trợ hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và giảm nghèo bền vững. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về các lỗ hổng can thiệp vi mô, giúp các tổ chức thiết kế các dự án viện trợ sinh kế dựa vào cộng đồng sát thực tế và tối ưu hóa hiệu quả phân bổ nguồn vốn.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản lý tài nguyên môi trường và Xã hội học nông thôn. Đây là nguồn tài liệu học thuật mẫu mực về kỹ thuật vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững trong nghiên cứu định lượng kết hợp định tính tại hiện trường phức tạp.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp huyện và xã có rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Công trình là cẩm nang thực tiễn giúp cán bộ cơ sở nhận diện nhanh các điểm nghẽn về hạ tầng, tín dụng và lao động, từ đó chủ động xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội phù hợp với đặc thù quản lý rừng địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Một là, tại sao chính sách di dời dân cư ra khỏi vùng lõi Khu Bảo tồn lại kéo dài suốt 15 năm mà không thể hoàn thành? Nguyên nhân chủ yếu do quy mô di dời quá lớn lên tới hơn 1.300 hộ dân đòi hỏi nguồn vốn đền bù giải tỏa và xây dựng khu tái định cư vượt xa khả năng cân đối ngân sách của địa phương. Trong thực tế, việc thiếu hụt quỹ đất sản xuất tại nơi tiếp nhận mới cũng khiến các phương án di dân không nhận được sự đồng thuận cao từ phía các hộ dân.

Hai là, khung phân tích sinh kế bền vững của Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh giúp ích gì cho nghiên cứu này? Khung phân tích cung cấp công cụ toàn diện để phân rã sinh kế thành 5 nhóm nguồn vốn cụ thể, giúp định lượng chính xác sự thiếu hụt tài sản của từng nhóm hộ. Phương pháp này cho phép nhận diện rõ mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi chính sách công quyền với mức độ tổn thương kinh tế của cộng đồng dân cư.

Ba là, tại sao tỷ lệ trẻ em nghỉ học sớm tại ấp 5 lại tập trung chủ yếu ở bậc chuyển cấp sau tiểu học? Hạ tầng giáo dục tại ấp 5 chỉ có duy nhất một điểm trường tiểu học, các trường trung học cơ sở đều nằm cách xa từ 13 đến 20 km. Chi phí đi lại quá cao cộng với đường sá xuyên rừng trắc trở đã trở thành rào cản ngăn bước học sinh nghèo tiếp tục đến trường khi 100% hộ nghèo không đủ năng lực tài chính trang trải.

Bốn là, cơ chế đất giao khoán 50 năm theo hợp đồng cũ gây ra những bất cập sinh kế cụ thể nào? Hợp đồng giao khoán lâm nghiệp không cho phép xác lập quyền tài sản hợp pháp, đồng nghĩa với việc người dân không thể đem đất đi thế chấp để tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng chính thống. Hơn nữa, việc bị cấm xây dựng nhà ở kiên cố khiến 100% hộ nghèo phải sống trong nhà tạm dột nát, triệt tiêu mọi động lực đầu tư cải tạo đất lâu dài.

Năm là, giải pháp nào được đánh giá là khả thi nhất để cải thiện thu nhập cho người dân mà không làm tổn hại đến rừng đặc dụng? Giải pháp khả thi nhất là thể chế hóa mô hình đồng quản lý và nông lâm kết hợp dưới tán rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Việc tạo sinh kế từ lâm sản ngoài gỗ và phát triển chăn nuôi gia súc có kiểm soát giúp người dân nâng cao thu nhập lên khoảng 30%, biến họ thành đối tác chủ động bảo vệ rừng thay vì đối tượng vi phạm lâm luật.

Kết luận

Năm đóng góp cốt lõi mà công trình nghiên cứu mang lại bao gồm:

  • Định lượng hóa chi tiết thực trạng nghèo đa chiều và sự suy thoái của 5 nguồn vốn sinh kế tại vùng lõi Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai.
  • Bóc tách toàn diện các xung đột thể chế giữa chính sách bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nghiêm ngặt với các yêu cầu bảo đảm quyền an sinh cơ bản của người dân.
  • Minh chứng thực nghiệm về tác động tiêu cực của quy hoạch treo di dời dân cư đến sự phát triển vốn con người qua nhiều thế hệ.
  • Đề xuất mô hình tích hợp đồng quản lý tài nguyên rừng kết hợp giải pháp đầu tư hạ tầng phân tán và tín dụng vi mô phù hợp với điều kiện thực tế.
  • Xây dựng lộ trình cải cách chính sách có tính khả thi cao, góp phần giải quyết hài hòa bài toán xung đột lợi ích kinh tế và môi trường.

Về lộ trình các bước tiếp theo, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan cần tập trung rà soát lại quỹ đất canh tác, hoàn thiện hạ tầng cấp nước ngầm và điện mặt trời trong giai đoạn 2016-2018, tiến tới vận hành cơ chế đồng quản lý rừng toàn diện trước năm 2020.

Bảo tồn thiên nhiên chỉ có thể thành công bền vững khi cộng đồng cư dân bản địa được tôn trọng quyền phát triển và trở thành lực lượng đồng hành trực tiếp. Các nhà quản lý hãy nhanh chóng hành động để chuyển hóa những khuyến nghị từ luận văn thành các quyết sách cụ thể, mang lại sinh kế vững chắc cho người dân xã Mã Đà.