phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc trình bầy trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản trị nhân sự ở doanh nghiệp kinh doanh dầu khí. -14- Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nhân sự tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2008. Chƣơng 3: Một số giải pháp cải tiến công tác quản trị nhân sự cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong thời gian tới. CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QTNS Ở DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ 1.1 Đặc điểm, vai trò và tầm quan trọng của công tác QTNS trong doanh nghiệp kinh doanh dầu khí 1.1 Đặc điểm doanh nghiệp kinh doanh dầu khí Ngành công nghiệp dầu khí đòi hỏi áp dụng kỹ thuật công nghệ cao.
Các mỏ dầu khí thƣờng nằm ở dƣới độ sâu hàng nghìn mét trong lòng đất. Ngoài thềm lục địa thì còn phải tính thêm độ sâu nƣớc biển từ hàng chục đến hàng trăm mét. Vì vậy con ngƣời không thể trực tiếp tiếp cận các mỏ ở sâu trong lòng đất. Sự hiểu biết của con ngƣời về địa chất, về cấu tạo các mỏ dầu khí, về sự chuyển dịch của các lƣu thể lỏng: dầu, khí, nƣớc, trong mỏ đều phải qua suy đoán, tính toán nhờ vào các phƣơng tiện máy móc hiện đại kết tinh hàm lƣợng chất xám cao.
Do đó lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí đòi hỏi phải áp dụng những tiến bộ mới nhất về khoa học và kỹ thuật. Để áp dụng đƣợc những tiến bộ mới nhất về khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành dầu khí phải có đội ngũ lao động lành nghề, trình độ học vấn cao, đƣợc đào tạo và có nhiều năm kinh nghiệm để ứng dụng đƣợc công nghệ mới trong công việc. Ngành công nghiệp dầu khí đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn và mang tính quốc tế cao. Để ứng dụng đƣợc những công nghệ cao thì cần phải có một khối lƣợng vốn đầu tƣ khá lớn.
Mọi nhà đầu tƣ vào lĩnh vực dầu khí đều phải tính đến khả năng sử dụng lƣợng vốn lớn và ứng dụng công nghệ tiên tiến -15- nhất hiện có. Thông thƣờng khi đầu tƣ vào một lô tìm kiếm, thăm dò, các công ty phải bỏ ra hàng trăm triệu USD. Thực hiện một giếng khoan thăm dò với chiều sâu khoảng 4000m thì chi phí ƣớc khoảng 10 triệu USD. Để đánh giá và lập sơ đồ công nghệ mỏ dầu, khí nhiều khi phải khoan hàng chục giếng khoan thăm dò rất tốn kém.
Công tác vận chuyển dầu khí vào bờ cũng đòi hỏi lƣợng vốn đầu tƣ lớn vì hầu hết các mỏ dầu khí đều nằm xa bờ. Lĩnh vực chế biến dầu khí cũng cần lƣợng vốn đầu tƣ ban đầu rất lớn bằng ngoại tệ nhƣng thời gian thu hồi vốn thƣờng rất dài. Các lĩnh vực hoá dầu, sản xuất dầu mỡ nhờn, chất dẻo, phân bón và các sản phẩm dầu khí khác cũng cần nhiều vốn đầu tƣ. Xuất phát từ yêu cầu sử dụng vốn đầu tƣ lớn cho nên hợp tác quốc tế trở thành một đặc thù mang tính phổ biến của ngành dầu khí.
Rất khó có thể tìm thấy một công ty hay quốc gia nào có hoạt động dầu khí lại không có hợp tác quốc tế. Tính quốc tế của các hoạt động dầu khí còn thể hiện ở chỗ do công nghệ cao và mang tính chuyên ngành sâu, hầu hết mọi công ty đều không thể tự mình thực hiện toàn bộ chuỗi công việc, từ đó hình thành và phát triển lĩnh vực dịch vụ dầu khí. Chính đặc điểm này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong ngành dầu khí phải xây dựng đƣợc phong cách quản lý trong doanh nghiệp, phải tổ chức, hợp tác chặt chẽ trong công tác quản trị nhân sự. Để liên doanh, liên kết đƣợc với các nƣớc khác đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu đƣợc nền văn hoá của nƣớc bạn từ đó đƣa ra cách ứng xử phù hợp với truyền thống và phong tục tập quán của nƣớc bạn.
Làm đƣợc điều đó sẽ đem lai hiệu quả cao trong quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế. Dầu khí là lĩnh vực kinh tế đa ngành nghề bao gồm tất cả các khâu từ thăm dò khai thác đến chế biến, kinh doanh sản phẩm với công nghệ hiện đại, quy trình công nghệ nhiều công đoạn nhƣ khai thác, chế biến,thƣơng mại,. đòi hỏi phải chú trọng công tác đào tạo đa ngành đa nghề để đội ngũ lao động -16- làm một việc biết nhiều việc, có thể thuyên chuyển công việc một cách linh hoạt. Địa bàn hoạt động trong các doanh nghiệp kinh doanh dầu khí rất rộng lớn không chỉ hoạt động ở trong nƣớc mà còn hoạt động ở nƣớc ngoài, không chỉ hoạt động ở trong nhà mà còn hoạt động phân tán ở ngoài trời ngoài biển khơi nên gặp rất nhiều rủi ro.
Bên cạnh đó môi trƣờng làm việc trong ngành dầu khí đƣợc xếp vào nặng nhọc, độc hại cao, do tính chất độc hại của các yếu tố hoá học, do công nghệ thăm dò, khai thác sản sinh các yếu tố nhƣ hơi khí độc, ồn và rung. Từ đặc điểm này đặt ra vấn đề đối với các nhà quản trị là phải đảm bảo điều kiện an toàn lao động, trang bị bảo hộ lao động cho công nhân làm việc ở ngoài trời, phải tổ chức trang thiết bị an toàn cho công nhân đi khai thác ở nƣớc ngoài.2 Vai trò QTNS trong doanh nghiệp kinh doanh dầu khí Quản trị nhân sự có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp kinh doanh dầu khí nói riêng, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhƣng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà quản trị có vai trò đề ra các chính sách, đƣờng lối, chủ trƣơng có tính chất định hƣớng cho sự phát triển của doanh nghiệp. Các chính sách này phải có khả năng giải quyết các vấn đề khó khăn và giúp cơ quan thực hiện đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Trong xu thế toàn cầu hoá đòi hỏi nhà quản trị phải là ngƣời biết nhìn xa trông rộng, nhạy bén với thời cuộc, có trình độ chuyên môn cao để có thể đƣa ra các chính sách, đƣờng lối linh hoạt thích ứng với từng thời điểm cũng nhƣ từng đối tác. Ngoài ra, nhà quản trị còn đóng vai trò tƣ vấn và cố vấn cho các cấp quản trị, chẳng hạn một bộ phận nào đó có ván đề công nhân bỏ việc, bộ phận khác có tỷ lệ số ngƣời vắng mặt cao, ….trong tất cả các vấn đề, nhà quản trị -17- phải nắm vững chính sách nhân sự của công ty mình và theo khả năng chuyên môn của mình, họ có thể đảm nhận giải quyết các vấn đề khó khăn đó qua các chƣơng trình cụ thể và thích ứng với tính cách cố vấn. Do đó ngƣời ta đo lƣờng khả năng của nhà quản trị qua khả năng đƣa ra các lời khuyên hoặc khuyến cáo thích hợp với vấn đề nảy sinh một cách có hiệu quả. Vai trò nhƣ cung cấp các dịch vụ nhƣ tuyển dụng, đào tạo và phúc lợi cho các bộ phận khác cũng là nhiệm vụ của nhà quản trị.
Bên cạnh đó nhà quản trị còn đảm nhận các chứng năng kiểm tra bằng cách giám sát các bộ phận khác có đảm bảo thực hiện các chính sách, các chƣơng trình thuộc về nhân sự đã đề ra hay không. Trong lĩnh vực kinh doanh dầu khí đại đa số các doanh nghiệp, các quốc gia phải liên doanh, liên kết với nhau, vai trò đặt ra cho các nhà quản trị là phải biết tạo dựng văn hoá kinh doanh, tạo dựng phong cách làm việc để hoà nhập với bạn bè quốc tế. Bên cạnh đó nhà quản trị cũng phải tạo đƣợc khả năng thích nghi với những thay đổi của môi trƣờng bên ngoài.3 Tầm quan trọng của công tác quản trị nhân sự Trong những năm gần đây, công tác quản trị nhân sự đã đƣợc các nhà quản trị đặc biệt chú ý khi cả trình độ, năng lực của nhân viên lẫn trang thiết bị kỹ thuật ngày càng nâng cao, khi công việc ngày càng phức tạp, đa dạng và yêu cầu của công việc ngày càng tăng, khi hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối đầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trƣờng, phải vật lộn với các cuộc suy thoái kinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân viên. Đặc biệt trong nền kinh tế chuyển đổi, nơi mà các sản phẩm đã đƣợc hoạch định, mọi ngƣời đã quen với việc đứng xếp hàng khi mua sắm, các nhà quản trị không hề có ý tƣởng về quản trị kinh doanh, kết quả là họ không có khả năng đƣa ra quyết định, không có khả năng để chấp nhận may rủi, làm việc đơn thuần nhƣ một nhân viên hành chính, vấn đề áp dụng và phát triển quản -18- trị nhân sự đƣợc coi nhƣ một trong những điểm mấu chốt của cải cách quản lý.
Nói quản trị nhân sự có tầm quan trọng rất to lớn đối với mỗi doanh nghiệp nói chung và đối với ngành dầu khí nói riêng là vì: Thứ nhất, quản trị nhân sự nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nhân sự trong doanh nghiệp, với tƣ cách là một yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thứ hai, trong tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp nhƣ nhà xƣởng, máy móc, trang thiết bị, vốn, sức lao động,. thì sức lao động là yếu tố quan trọng nhất, nó giữ vai trò quyết định và chỉ thông qua nguồn lực này và quá trình quản trị đó thì các nguồn lực khác mới phát huy đầy đủ mọi tiềm năng. Thứ ba, mỗi thành viên khi tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều có đặc điểm chung về tâm lý, động cơ thúc đẩy nhƣng họ cũng có những đặc điểm riêng.
Vì vậy, trong doanh nghiệp họ không tránh khỏi những mâu thuẫn do những cái riêng đó gây ra, để giải quyết mâu thuẫn này thì chỉ bằng công tác quản trị nhân sự. Thứ tƣ, nguồn nhân sự cũng đƣợc coi là một phƣơng tiện để sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nó khác với các nguồn nhân lực khác, nguồn lực nhân sự còn là một mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên hai phƣơng diện kinh tế - xã hội với nội dung nhƣ đào tạo, phát triển nhân sự, đãi ngộ nhân sự.
Và qua đó, ta thấy quản trị nhân sự góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chiến lƣợc con ngƣời của doanh nghiệp.