Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản trị nhân lực trong ngân hàng thương mại. Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Tài liệu tham khảo.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG 1. Cơ sở lý luận về quản trị nhân lực trong ngân hàng 1. Khái niệm nhân lực trong ngân hàng Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về nguồn nhân lực nhưng theo nghĩa chung nhất thì “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lực lượng lao động trong một thời kì xác định của một quốc gia”. Tiềm năng đó bao gồm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động có thể đáp ứng một cơ cấu lao động cho nền kinh tế - xã hội nhất định hay cho một tổ chức nào đó.
Trong nhiều năm trước đây, khái niệm “lực lượng lao động” được sử dụng rất phổ biến và có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam chúng ta có một lực lượng lao động dồi dào, khái niệm nhân lực theo nghĩa mới có tính đến chi tiết hơn những yếu tố nội tại bên trong của lực lượng lao động và chính vì vậy, khi đặt trong bối cảnh cạnh tranh chung của các nước trong khu vực như với Trung Quốc, nhân lực nước ta đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế. Hàng năm chúng ta có hàng vạn sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong khi đó có rất nhiều doanh nghiệp không tìm được người đáp ứng đủ yêu cầu để tuyển dụng. Vì vậy, với cơ cấu chất lượng của lực lượng lao động hiện nay, chúng ta cần xác định nhân lực của chúng ta như thế nào và xây dựng kế hoạch phân bổ một cách hợp lý giống như các nhà tài chính phân bổ ngân sách Nhà nước cho các khu vực khác nhau của nền kinh tế. Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''Tài nguyên đặc biệt '', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. 6 Như vậy, nhân lực của một tổ chức chính là lực lượng lao động mà tổ chức có thể thu hút và sử dụng để đáp ứng được đòi hỏi của tổ chức (về mục tiêu của tổ chức; chiến lược kinh doanh của tổ chức đó).
Lao động xã hội có rất nhiều, hàng năm bổ sung hơn 1,5 triệu người vào thị trường lao động trong đó có nhân lực cho ngành ngân hàng. Nhân lực trong ngành ngân hàng được hiểu là đội ngũ những người làm công tác tín dụng, giao dịch viên, quản lý rủi ro, quản trị tín dụng , kế hoạch tổng hợp, tài chính kế toán, tổ chức hành chính. Những người thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đến với khách hàng. Khái niệm về quản trị nhân lực Quản trị là những hoạt động phát sinh từ tập hợp của nhiều người, một cách có ý thức, để nhằm hoàn thành những mục tiêu chung.
Những tập thể đó được gọi là các tổ chức và tổ chức là môi trường của hoạt động quản trị. Quản là đưa đối tượng vào mục tiêu cần đạt. Trị là áp dụng các biện pháp mang tính chất hành chính - pháp chế để đạt mục tiêu. Về nội dung thuật ngữ “quản trị” có nhiều cách hiểu không hoàn toàn giống nhau: Có tác giả định nghĩa quản trị như là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
Có tác giả lại cho rằng quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức. Cũng có các tác giả định nghĩa quản trị là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Từ những điểm chung của các định nghĩa về quản trị trên, rút ra khái niệm về quản trị tổ chức như sau: Quản trị là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị và khách thể quản trị nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản trị nhân lực (Human Resource Management), được hiểu trên nhiều giác độ khác nhau: 7 Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì quản trị nguồn nhân lực (QTNL) bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hoá), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức.Song dù ở giác độ nào thì QTNL vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.
Đối tượng của QTNL là người lao động với tư cách là những cá nhân cán bộ nhân viên (CBNV) trong một tổ chức và các vấn đề liên quan đến họ như công việc và các quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong tổ chức. Mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào cũng là sử dụng một cách có hiệu quả NNL để đạt được mục tiêu của tổ chức đó. Quản trị NNL nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng lao động cần thiết cho tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản trị NNL giúp tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng góp nhiều sức lực cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân người lao động.
Từ những quan niệm trên, rút ra: Quản trị nhân lực là quá trình phân tích, đánh giá, hoạch định, quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Vai trò của quản trị nhân lực đối với ngân hàng Thứ nhất: QTNL giúp sử dụng tiết kiệm NNL của tổ chức với tư cách là một nguồn lực thông qua việc thực hiện một cách có hiệu quả và khoa học tất cả các khâu: tuyển dụng, đào tạo phát triển, sắp xếp, quản lý sử dụng hợp lý lực lượng lao động của mỗi tổ chức; xác định chính xác nhu cầu lao động, nguồn lao động để từ đó có giải pháp tối ưu đáp ứng kịp thời. Thứ hai: Quản trị nhân lực tạo điều kiện cho phát triển kỹ thuật, nâng cao hiệu suất lao động, xây dựng những tố chất lao động mới thích nghi với 8 sự biến đổi không ngừng của môi trường đảm bảo cho tổ chức phát triển liên tục và bền vững. Thứ ba: Quản trị nguồn nhân lực thúc đẩy cá nhân phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình, phát triển tiềm năng sáng tạo của từng người, nối kết những cố gắng chung tạo nên sức mạnh tập thể, quyết định hiệu quả và hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.
Thứ tư: Xuất phát từ tính chất cộng đồng và xã hội hoá rất cao của mỗi tổ chức, QTNL giúp cho các nhà quản trị đúc kết các bài học về cách giao dịch vớingười khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết cách nhạy cảm với nhu cầu nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa chiến lược con người trở thành một bộ phận hữu cơ trong chiến lược kinh doanh. Các mục tiêu quản trị nhân lực Có thể nói QTNL nhằm giải quyết các vấn đề về quản lý con người trong doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu căn bản sau đây: Nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lực nhân sự để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức và tăng khả năng làm việc cũng như kĩ năng của người lao động. Nhằm tuyển mộ, tuyển chọn, sắp xếp hợp lý nguồn lực sao cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp đồng thời thỏa mãn được nguyện vọng của người lao động. Tạo động lực cho người lao động, giúp họ phát huy hết khả năng của bản thân, nhờ đó nâng cao năng suất lao động cá nhân, có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tạo ra hệ thống bảng lương xứng đáng với sức lao động của nhân sự trong doanh nghiệp, giúp họ có nhu nhập ổn định, phục vụ cho cuộc sống, đảm bảo doanh thu của doanh nghiệp. Nội dung quản trị nhân lực 1. Phân tích công việc và hoạch định nhân lực a. Phân tích công việc Phân tích công việc là một nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm mục tiêu làm rõ tính chất của công việc từ đó đưa ra bản mô tả công việc, bản yêu cầu thực hiện công việc đối với ứng viên trong quá trình tuyển mộ cũng như tuyển chọn.
Ta có thể hiểu một cách khoa học rằng: “Phân tích công việc là quá trình thu thập các tư liệu và đánh giá một cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan tới các công việc cụ thể trong tổ chức nhằm làm rõ bản chất của từng công việc”. [4] Phân tích công việc là nghiên cứu các công việc để làm rõ: Ở từng công việc cụ thể, người lao động có những nhiệm vụ, trách nhiệm gì; họ thực hiện những hoạt động nào, tại sao phải thực hiện và thực hiện như thế nào; những máy móc, thiết bị, công cụ nào được sử dụng; những mối quan hệ nào được thực hiện; các đều kiện làm việc cụ thể; cũng như những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và các khả năng mà người lao động cần phả có để thực hiện công việc. Hoạch định nhân lực “Hoạch định nhân sự là quá trình lập kế hoạch quản trị, nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lực nhân sự của tổ chức.