CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP PHƯỜNG 1. Cơ sở khoa học quản lý ngân sách phường 1. Một số khái niệm Hiện nay đã có nhiều định nghĩa về NSNN, các định nghĩa đó có nhiều mặt đúng, nhưng cũng có những ý không thể chấp nhận được, song vì phạm vi nghiên cứu của luận văn này có hạn, nên tôi không lạm bàn về khái niệm đó mà chỉ xin nêu một ý kiến điển hình là định nghĩa về NSNN, được ghi tại Điều 4, Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam, ra ngày 25 tháng 6 năm 2015, mà chúng tôi coi là hoàn hảo hơn cả, theo đó: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được lập dự toán và thực hiện trong một thời kỳ nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước”. Một định nghĩa hoàn hảo về NSNN nhưng định nghĩa trên còn thiếu những ý liên quan đến từ “sách”.
Bất cứ một thuật ngữ nào cũng là kết quả của sự lựa chọn từ, có khả năng phản ánh tối đa bản chất của sự vật, sự việc được định danh. Nếu không thế đã chẳng cần đến thuật ngữ. Mọi ngôn ngữ đều như thế chứ chưa cần nói là thuật ngữ. Từ ngữ được dùng đến độ “Thuật” là phải có tính “Học thuật”, “Nghệ thuật”, “Phép thuật”.
Từ “Sách” ắt phải hàm nghĩa gì đó, chứ không là từ vô ý tứ. Vì thế, xuất phát từ nguồn gốc, bản chất, công dụng thực tế của cái được gọi bằng thuật ngữ là NSNN, Ngân sách nhà nước là công quỹ quốc gia, được hình thành chủ yếu từ nhiều nguồn đóng góp của quốc dân dưới hình thức Thuế và được dùng để phục vụ sự tồn tại và phát triển chung của quốc gia, được Nhà nước tính toán với ý đồ nhất định qua các khoản thu, chi diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định của tiến trình vận động và phát triển của quốc gia. Theo Bách khoa toàn thư (2020), thì "Ngân sách là danh sách các khoản thu chi bằng tiền của nhà nước trong một thời kỳ nhất định; nghĩa là mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của một doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân trong một thời kỳ. của thời gian ”.
[12] Từ điển Kinh tế thị trường của Trung Quốc (2017), định nghĩa “Ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính thu chi hàng năm của nhà nước được xem xét và phê duyệt theo thủ tục pháp lý. [12] Về khái niệm ngân sách nhà nước, có một số quan điểm khác nhau như: Trong nhóm thứ nhất, ngân sách nhà nước là một bản dự toán về thu và chi phí hàng năm của nhà nước.Khái niệm này về mặt hình thức là đúng, nhưng nó chỉ là một giai đoạn của quá trình ngân sách và chưa thể hiện được vị trí của ngân sách nhà nước. Một số tác giả thuộc nhóm thứ hai cho rằng ngân sách nhà nước là quỹ tài chính tập trung của nhà nước.Cách nghĩ này là đúng khi người ta nhận ra ngân sách nhà nước, đồng thời nâng cao vị thế của ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với các quỹ tiền tệ khác. Theo quy luật, các khoản thu của nhà nước chảy vào quỹ tiền tệ, và các khoản chi của nhà nước cũng chảy từ quỹ tiền tệ này.
Tuy nhiên, những quan điểm này không phản ánh chính xác cân đối kinh tế vĩ mô của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Theo nhóm thứ ba, ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội nảy sinh từ quá trình nhà nước huy động và phân phối các nguồn lực tài chính.Chỗ đúng của khái niệm này là nói ngân sách nhà nước chứa đựng các quan hệ kinh tế, nhưng không nói ngân sách nhà nước là chủ thể nào? Mối quan hệ kinh tế này có phải là mối quan hệ tài chính - ngân sách không? Các góc nhìn trên không có sự chênh lệch quá nhiều, hoàn toàn có thể gần nhau hơn. Trên cơ sở phân tích và quan sát thực tế, ngân sách nhà nước có thể được khái niệm như sau: ngân sách nhà nước là tập hợp các khoản thu, chi của nhà nước đã được quyết định và thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có liên quan trong thời hạn một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Các khái niệm và định nghĩa về ngân sách nhà nước trên đây chỉ thể hiện hình thức hoạt động của ngân sách nhà nước và bản chất pháp lý của nó, tuy nhiên, các quan điểm trên là chưa đầy đủ về cách xác định khái niệm và cách hiểu bản chất của NSNN.
Khái niệm ngân sách nhà nước cần thể hiện nội dung kinh tế - xã hội của ngân sách nhà nước, cần được xem xét dưới góc độ hình thức, chủ thể và các quan hệ kinh tế chứa đựng trong ngân sách nhà nước. Về hình thức: Ngân sách nhà nước là dự toán thu, chi do Chính phủ lập, trình Quốc hội thông qua và ủy thác cho Chính phủ thực hiện. Hoạt động của ngân sách nhà 7 nước được thể hiện bằng thu chi của nhà nước. Trong thực tế hoạt động, các hình thức thu, chi của ngân sách nhà nước rất phong phú và đa dạng, nhưng không phải là tự phát, không phụ thuộc vào ý chí của nhà nước mà được gắn kết bởi các nội hàm thành một quyền lực chặt chẽ.
Hầu hết các khoản thu ngân sách nhà nước đều mang tính chất bắt buộc, còn chi thì cấp phát và không được hoàn trả trực tiếp. Về mặt thực thể: Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu chi cụ thể, có thể định lượng được. Toàn bộ thu được chuyển vào quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Mọi chi phí đều do quỹ tiền tệ tập trung này phát hành.
Về nội dung: Hoạt động thu và chi của NSNN đều phản ánh những quan hệ kinh tế nhất định giữa nhà nước với các chủ thể hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, cụ thể: - Quan hệ tài chính giữa nhà nước và nhân dân thông qua thuế, phí, các khoản đóng góp tự nguyện, đồng thời các hộ gia đình khác được ngân sách nhà nước trợ cấp xã hội theo chính sách quy định. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế: Các công ty nộp thuế cho Nhà nước, Nhà nước cấp vốn phát triển kinh tế cho các công ty, cung cấp vốn cho các công ty. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các tổ chức tài chính: Nhà nước phát hành các loại chứng khoán như công trái, trái phiếu, v. nhằm huy động vốn của mọi đối tượng trong xã hội.
- Quan hệ tài chính giữa các nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các đơn vị tài trợ thực hiện văn hóa, thể thao, giáo dục và đào tạo, y tế và phúc lợi. góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các nước, các tổ chức quốc tế thông qua việc tài trợ, viện trợ nhân đạo hay khoản đầu tư nước ngoài, vay và cho vay. Theo Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành từ năm tài chính 2015 thì “Ngân sách nhà nước là tổng số các khoản thu, chi của nhà nước đã được các cơ quan nhà nước có quyền hạn và thực hiện trong thời hạn nhất định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ”[22].
Khái niệm này có thể coi là khái niệm cơ bản nhất trong số các khái niệm được đề cập trong đề tài. Theo quy định của Luật ngân sách năm 2015, hệ thống NSNN của Việt Nam 8 được tổ chức theo sơ đồ sau: NSNN Ngân sách Trung Ương Ngân sách Địa phương Ngân sách tỉnh, thành phố Ngân sách huyện, quận, thị Ngân sách xã, trực thuộc Trung Ương xã, thành phố thuộc tỉnh phường, thị trấn Sơ đồ 1.1: Tổ chức hệ thống NSNN Việt Nam Ngân sách phường là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước,là cấp cơ sở có mối quan hệ gần dân nhất và liên quan trực tiếp đến nhân dân. Vì vậy, ngân sách cấp phường có vai trò quan trọng, là tiền đề tạo điều kiện để cấp chính quyền cơ sở chủ động khai thác các lực lượng sẵn có để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội và giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương. Ngân Ngân sách phường là kết quả của quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp quản lý của nhà nước.
Ngân sách Phường có thể được hiểu rộng hơn như sau: “Ngân sách phường (NSP) là tất cả các khoản thu và chi trong dự toán đã được Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho chính quyền của cấp phường trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ tại địa phương”. Đặc điểm quản lý ngân sách phường Thứ nhất, đặc điểm về đối tượng của quản lý ngân sách phường: Đối tượng của quản lý ngân sách phường là các hoạt động của NSNN. Tuy nhiên, hoạt động ngân sách nhà nước luôn gắn liền với các cơ quan nhà nước. Các cơ quan này vừa là người nhận kinh phí của nhà nước vừa là người tổ chức các hoạt động của ngân sách nhà nước.Do đó, các tổ chức này cũng chịu sự kiểm soát của ngân sách cấp phường.Lấy chất lượng, hiệu quả hoạt động ngân sách nhà nước làm cơ sở để phân tích, đánh giá động cơ và biện pháp tổ chức, điều hành hoạt động ngân sách nhà nước của các cơ quan nhà nước là yêu cầu và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước.
Qua đó, nguồn 9 tài chính của công quỹ mới được sử dụng hiệu quả, hợp lý nhằm tránh lãng phí, thất thoát và những hành vi tham nhũng công quỹ. Thứ hai, đặc điểm của việc sử dụng các phương pháp quản lý và công cụ quản lý ngân sách của đơn vị: Nếu phương pháp tổ chức và hành chính có ưu điểm là đảm bảo tập trung, thống nhất theo nguyên tắc duy nhất thì nhược điểm của lãnh đạo và quyền lực là hạn chế của việc kích thích và chủ động của các cơ quan, tổ chức quản lý ngân sách khu phố.