lời mở đầu, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: “ Cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu tƣ”. Chƣơng 2: “Tình hình quản lý các dự án đầu tƣ tại Tổng công ty điện lực Thành phố Hà Nội”. Chƣơng 3: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng công trình điện trong Tổng công ty điện lực Thành phố Hà Nội” 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ Khi đánh giá một dự án đầu tƣ của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng nhƣ tổ chức thực hiện quản lý dự án, trƣớc hết cần hiểu rõ những khái niệm cơ bản về dự án đầu tƣ cũng nhƣ phƣơng pháp quản lý dự án. Trên cơ sở những khái niệm, mỗi dự án lại có những tính chất, đặc điểm riêng dựa vào đó để phân tích và đánh giá.1- KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐIỆN.1- Khái niệm về đầu tƣ xây dựng công trình điện.
Đầu tư là việc các Tổ chức, cá nhân theo qui định của pháp luật bỏ tài sản tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận theo qui định của Luật đầu tư và các qui định khác của pháp luật có liên quan [11]. Đầu tƣ xây dựng công trình điện là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình điện nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.2- Vị trí và vai trò của đầu tƣ xây dựng công trình điện trong nền kinh tế. Đầu tƣ xây dựng công trình điện có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất kỳ hình thức kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội. Đầu tƣ xây dựng công trình điện cơ bản hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ hiện đại; tạo ra những cơ sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nƣớc và đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế; chính trị - xã hội; an ninh - quốc phòng.
Đối với một nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta hiện nay, quản lý hiệu quả các dự án xây dựng các công trình điện là cực kỳ quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp.2- KHÁI NIỆM DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐIỆN.1- Khái niệm dự án đầu tƣ xây dựng công trình điện. Khi đầu tƣ xây dựng công trình điện, Chủ đầu tƣ ( CĐT ) xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tƣ, dự án đầu tƣ (hoặc lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật) để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. Dự án là tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian xác định với sự rằng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn [7]. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt đƣợc mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ.
Theo Luật xây dựng thì dự án đầu tư xây dựng công trình điện là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình điện nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng công trình điện bao gồm 2 phần: phần thuyết minh và phần thiết kế [9].2- Đặc điểm của dự án đầu tƣ xây dựng công trình điện. Dự án xây dựng công trình điện là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công … đƣợc giải quyết. Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình điện có một số đặc điểm sau: * Dự án có tính thay đổi: Là dự án không tồn tại một cách ổn định cứng, hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn do các tác nhân từ bên trong nhƣ nguồn nhân lực, tài chính, các hoạt động sản xuất… và bên ngoài nhƣ môi trƣờng chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật … và thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội.
8 z * Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có đặc trƣng riêng biệt lại đƣợc thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trƣờng luôn thay đổi. * Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thƣờng có một số kỳ hạn có liên quan. Có thể ngày hoàn thành đƣợc ấn định một cách tuỳ ý, nhƣng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án, điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của ngƣời đầu tƣ. Mỗi dự án đều đƣợc khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó trong quá trình triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất.
Sự thành công của Quản lý dự án ( QLDA ) thƣờng đƣợc đánh giá bằng khả năng có đạt đƣợc đúng thời điểm kết thúc đã đƣợc định trƣớc hay không? Quy mô của mỗi dự án là khác nhau và đƣợc thể hiện một cách rõ ràng trong mỗi dự án vì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí của dự án. * Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau: Triển khai dự án là một quá trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định, chính vì vậy để thực hiện đƣợc nó chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau, việc kết hợp hài hoà các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả dự án.3- Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tƣ xây dựng các công trình điện. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình điện bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tƣ; Thực hiện đầu tƣ và Kết thúc xây dựng, đƣa công trình vào khai thác sử dụng. Quá trình thực hiện dự án đầu tƣ có thể mô tả bằng sơ đồ sau: 9 z Lập báo cáo Thiết kế Đấu thầu Thi công Nghiệm Lập Dự án đầu tƣ đầu tƣ (Lập thu (Lập BCKTKT) NVTK).
Đối với DA quan trọng, qui mô lớn (Đối với các dự án qui mô nhỏ) Lập báo cáo Thiết kế kỹ thuật. Chuẩn bị đầu tƣ Thực hiện đầu tƣ Kết thúc DADT Hình 1.1: Sơ đồ quá trình thực hiện dự án ĐTXD công trình điện Nguồn: Qui trình thực hiện dự án đầu tư của EVN Hà Nội 1.1- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ (tiền đầu tƣ) quyết định sự thành công hay thất bại của các giai đoạn tiếp theo. Chi phí cho giai đoạn này chiếm từ 0,5% đến 15% tổng vốn đầu tƣ của dự án. Đối với các dự án quan trọng quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội thì CĐT phải lập Báo cáo đầu tƣ trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trƣơng và cho phép đầu tƣ.
Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt thì CĐT phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tƣớng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trƣớc khi lập dự án đầu tƣ xây dựng công trình. Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chƣa có trong quy hoạch xây dựng thì phải đƣợc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận.2- Giai đoạn thực hiện đầu tư Sau khi báo cáo đầu tƣ đƣợc phê duyệt, dự án đầu tƣ đƣợc chuyển sang giai đoạn tiếp theo- giai đoạn thực hiện đầu tƣ. Trong giai đoạn này vấn đề thời gian là quan trọng nhất, đây là thời kỳ vốn không sinh lời, vốn đầu tƣ trong giai đoạn này chiếm từ ( 85-99,5)% tổng mức đầu tƣ. Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tƣ vấn, phải lựa chọn đƣợc những chuyên gia tƣ vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tƣ vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết kế đến giai đoạn quản lý giám sát xây dựng- đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp.
Trong khi lựa chọn đơn vị tƣ vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tƣ vấn này phải có kinh nghiệm qua những dự án đã đƣợc họ thực hiện trƣớc đó. Một phƣơng pháp thông thƣờng dùng để chọn là đòi hỏi các cơ quan tƣ vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu. Việc lựa chọn nhà thầu tƣ vấn xây dựng công trình đƣợc thực hiện theo Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ. Sau khi lựa chọn đƣợc nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án đƣợc phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình.
Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bƣớc, hai bƣớc hay ba bƣớc. Thiết kế một bƣớc là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế- kỹ thuật ( công trình có tổng mức đầu tƣ nhỏ hơn 15 tỷ hoặc các công trình thuộc khoản a; khoản b Điều 13 của NĐ12/2009/NĐ-CP). Thiết kế hai bƣớc bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tƣ. Thiết kế ba bƣớc bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do ngƣời quyết định đầu tƣ quyết định.
11 z Sau khi sản phẩm thiết kế đƣợc hình thành, CĐT tổ chức thẩm định hồ sơ TKKT-TDT và trình lên cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền (cụ thể là ngƣời có thẩm quyền ra quyết định đầu tƣ) phê duyệt.